Cách nấu cháo bí đỏ cho trẻ và lợi ích của việc ăn bí đỏ

Bí đỏ là loại quả quen thuộc được bày bán rộng rãi, đồng thời cũng là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, đem lại bữa ăn ngon miệng cho trẻ trong độ tuổi ăn dặm.

Ngoài việc chứa hàm lượng vitamin A dồi dào, bí đỏ còn là nguồn cung cấp protein và sắt quan trọng cho trẻ nhỏ. Hàm lượng chất béo, calo trong bí đỏ không quá nhiều trong khi hàm lượng chất xơ cao bảo đảm cho hệ tiêu hóa của trẻ được vận hành tốt.

Trẻ nhỏ có thể bắt đầu ăn bí đỏ từ 6 tháng tuổi. Vào thời điểm này, các mẹ có thể chế biến bí đỏ cùng cháo, ăn kèm thịt gà hoặc trộn với sữa chua. Khi chọn mua bí đỏ cho bé, các mẹ hãy nhớ chọn những quả nặng, chắc tay, vỏ nhẵn và cuống dài để đảm bảo độ tươi ngon nhé!

Có bí đỏ, bé ăn dặm "thun thút" - 1
Dùng bí đỏ làm món ăn dặm sẽ có hình thức rất đẹp mắt, kích thích bé thèm ăn (ảnh minh họa)

Sau đây là một vài gợi ý cho mẹ để chế biến bí đỏ cho bé yêu

1) Bí đỏ trộn chuối cho trẻ từ 6-8 tháng

Nguyên liệu: ½ cốc bí đỏ nấu chín; 2 quả chuối nhỏ

Chế biến: Nghiền nhuyễn chuối sau đó đổ bí đỏ được rây theo độ ăn thô của bé rồi trộn đều. Các mẹ có thể trộn thêm sữa chua hoặc bột ăn dặm để làm tăng khẩu vị cho bé yêu.

2) Súp kem bí đỏ cho trẻ từ 8-10 tháng 

Nguyên liệu: 100g bí đỏ; 40g thịt gà; 50g hành tây; 10g cần; 1 củ cà rốt; 20ml whipping cream; Dầu olive.

Cách chế biến:

- Bằm nhỏ hành tây cần tây xào cùng dầu olive, sau đó cho thịt gà băm nhỏ theo độ thô của bé ăn vào xào săn.

- Tiếp đó cho bí đỏ thái lát mỏng, cà rốt thái mỏng vào xào rồi đổ ngập nước đun trong khoảng 15 phút.

- Sau khi súp chín mang súp đi xay nhuyễn, cho ra bát và đổ kem lên trên bề mặt và cho bé thưởng thức ngay khi súp còn nóng.

- Ngoài ra các mẹ có thể tự lên thực đơn với bí đỏ cho bé yêu tại nhà. Bí đỏ sẽ rất ngon khi được kết hợp với táo, chuối, đào, cà rốt, khoai lang, thịt gà và sữa chua.

Một vài lưu ý khi chế biến bí đỏ cho bé 

Bí đỏ cần được chế biến ngay sau khi thái và các mẹ nhớ khi nào cho bé ăn hãy đun bí đỏ. Nếu không cho bé ăn ngay sau khi nấu được thì mẹ phải bảo quản bí đỏ trong tủ lạnh. Lúc này màu sắc của bí đỏ có thể chuyển sang màu cam nâu nhưng các mẹ cũng đừng lo vì đây là hiện tượng hoàn toàn bình thường.

Các mẹ cũng nên chú ý đừng đun hầm bí đỏ quá lâu sẽ làm giảm thiểu lượng vitamin và khoáng chất. Nướng lò chính là cách chế biển tốt nhất để đảm bảo được tối đa các dưỡng chất có trong bí đỏ. Tuy nhiên, dù chế biến theo cách nào mẹ cũng nhớ loại bỏ hết phần hạt trong quả đi nhé !

Lợi ích của việc ăn bí đỏ

 

Trong số các loại quả, bí đỏ là nhà vô đích về hàm lượng sắt, giàu vitamin và muối khoáng cũng như các axit hữu cơ. Các mẹ đã biết đến công dụng tuyệt đời của bí đỏ đối với bé yêu nhà bạn chưa? Ăn bí đỏ giúp bé tăng cường hệ miễn dịch, thúc đẩy cơ thể phát triển. Tuy nhiên ăn bí đỏ cũng phải đúng liều lượng, ăn nhiều sẽ không tốt. Các mẹ tham khảo cách chế biến các loại cháo bí đỏ cho trẻ từ bí đỏ nhé.

Hỏi: Thưa bác sỹ, con tôi 3 tuổi ăn bí đỏ liền 1 tháng có ảnh huởng gì tới sức khoẻ không? Xin cảm ơn! (Nguyễn Thị Thiện)

Lợi ích của bí đỏ và hướng dẫn cách chế biến các loại cháo bí đỏ cho trẻ  phần 1

Trả lời của bác sỹ chuyên khoa dinh dưỡng trẻ em:

Bí đỏ không chỉ có màu sắc đẹp mà còn là một thực phẩm rất tốt cho cơ thể. Một nhà y học đã nói: “bí đỏ là một thực phẩm bổ máu tốt nhất”. Với thời tiết hanh khô, bí đỏ với thành phần dinh dưỡng phong phú của mình dần dần đã không thể thiếu trong mâm cơm của mỗi gia đình. Bí đỏ có hàm lượng nước ít, lượng đường, tinh bột, vitamin A, vitamin C cao vì vậy nó là thực phẩm rất tốt cho cơ thể, ngoài ra bí đỏ có chứa phong phú carôtin và các loại vitamin B là một lựa chọn tốt cho mùa thu.

Ích lợi của bí đỏ đối với trẻ em

Tăng cường khả năng miễn dịch cho trẻ

Mùa thu khí hậu hanh khô, các em nhỏ thường có hiện tượng khô môi, chảy máu mũi , da sần sùi hoặc các triệu chứng khác. Mùa thu cũng là mùa dễ bị mắc các bệnh truyền nhiễm, ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ. Các chuyên gia kiến nghị rằng bổ sung cho trẻ những thực phẩm có chứa phong phú vitamin A, vitamin E để làm tăng khả năng miễn dịch cho trẻ, cải thiện những triệu trứng do thời tiết hanh khô gây nên. Trong bí đỏ có chứa chất xen lu lô, sau khi cơ thể hấp thụ sẽ chuyển hóa thành chất vitamin.

Bí đỏ giúp cai sữa cho trẻ

Mùa thu thời tiết mát mẻ, là khoảng thời gian giúp trẻ cai sữa tốt nhất. Bí đỏ có thể coi là thực phẩm tốt nhất thay thế cho sữa mẹ bởi vì bí đỏ có hàm lượng đường phong phú, dễ hấp thụ, dễ tiêu hóa. Giá trị dinh dưỡng của bí đỏ cao, ngoài nấu canh có thể nấu thành cháo, trưng, hấp, hầm… Hãy coi bí đỏ như một thực phẩm chính cho trẻ, không những giúp trẻ hấp thụ hàm lượng dinh dưỡng cao mà còn giúp trẻ phát triển lành mạnh.

Tác dụng diệt giun sán

“Bí đỏ có vị cam, ôn, bồi bổ ích khí, thông lạc chỉ thống, giải độc khử trùng”. Trong y học coi bí đỏ là một loại thực phẩm có tác dụng diệt trùng. Trẻ bị giun có thể ăn nhiều bí đỏ, ngoài ra còn làm giảm tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh sởi.

Bí đỏ có tác dụng phòng trừ ung bướu

Bí đỏ có tác dụng làm tiêu trừ các chất gây ung thư, ngăn chặn sự xuất hiện của các tế bào ung thư. Vì vậy, ở góc độ nào đó bí đỏ cũng có tác dụng ngăn ngừa ung bướu.

Tác dụng đối với huyết áp cao

Trong bí đỏ có chứa phong phú chất Xen lu lô và keo quả, có thể kết hợp những chất cholesteron thừa, nhằm làm giảm hàm lượng cholesteron trong máu, có tác dụng ngăn ngừa xơ cứng động mạch. Ngoài ra cũng rất có tác dụng đối với những người bị tiểu đường.

Bí đỏ có tác dụng thúc đẩy cơ thể bé phát triển

Trong bí đỏ có chứa nhiều kẽm, tham gia vào sự tố thành của protein và axit hạch, là vật chất quan trọng đối với sự phát triển của cơ thể.

Các công dụng khác của bí đỏ

Bí đỏ và gan lợn có thể chữa quáng gà, bồi bổ chức năng tỳ vị. Ngoài ra bí đỏ có chứa nhiều vitamin và keo quả, keo quả có tác dụng hấp thụ rất tốt, có tác dụng bài trừ vi khuẩn độc hại trong cơ thể.

Sử dụng bí đỏ cũng cần lưu ý

Tuy bí đỏ có rất nhiều công hiệu, nhưng ăn cũng nên có mức độ!

Ăn nhiều bí đỏ cũng không tốt

Khi trẻ ăn quá nhiều bí đỏ, hấp thụ lượng ca rô tin quá lớn thì ca rô tin sẽ tích tụ ở trên tầng biểu bì da, vì vậy mũi, trán, lòng bàn tay, lòng bàn chân, xung quanh mắt, xung quanh các khớp xương hoặc trên bề mặt da sẽ có nhiều nếp nhăn, nước da sẽ chuyển sang màu vàng chanh.

Ăn ít dễ bị quáng gà

Ca rô tin sau khi được hấp thụ vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A, mà vitamin A đóng vai trò quan trọng đối với thị giác, nếu như thiếu ca rô tin rất dễ gây nên quáng gà điều này thể hiện rõ đối với trẻ nhỏ.

Lượng bí đỏ thích hợp

Khi cho trẻ ăn bí đỏ, thích hợp nhất là mỗi ngày không quá một bữa là đủ.

Bí đỏ và những món ăn tuyệt vời cho bé

Bí đỏ là loại quả quen thuộc được bày bán rộng rãi, đồng thời cũng là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, đem lại bữa ăn ngon miệng cho trẻ trong độ tuổi ăn dặm. Ngoài việc chứa hàm lượng vitamin A dồi dào, bí đỏ còn là nguồn cung cấp protein và sắt quan trọng cho trẻ nhỏ. Hàm lượng chất béo, calo trong bí đỏ không quá nhiều trong khi hàm lượng chất xơ cao bảo đảm cho hệ tiêu hóa của trẻ được vận hành tốt.

Trẻ nhỏ có thể bắt đầu ăn bí đỏ từ 6 tháng tuổi. Vào thời điểm này, các mẹ có thể chế biến bí đỏ cùng cháo, ăn kèm thịt gà hoặc trộn với sữa chua. Khi chọn mua bí đỏ cho bé, các mẹ hãy nhớ chọn những quả nặng, chắc tay, vỏ nhẵn và cuống dài để đảm bảo độ tươi ngon nhé!

Sau đây là một vài gợi ý cho mẹ để chế biến bí đỏ cho bé yêu

Bí đỏ trộn chuối cho trẻ từ 6-8 tháng

Nguyên liệu: ½ cốc bí đỏ nấu chín; 2 quả chuối nhỏ

Chế biến: Nghiền nhuyễn chuối sau đó đổ bí đỏ được rây theo độ ăn thô của bé rồi trộn đều. Các mẹ có thể trộn thêm sữa chua hoặc bột ăn dặm để làm tăng khẩu vị cho bé yêu.

Súp kem bí đỏ cho trẻ từ 8-10 tháng

Lợi ích của bí đỏ và hướng dẫn cách chế biến các loại cháo bí đỏ cho trẻ  phần 2

Nguyên liệu: 100g bí đỏ; 40g thịt gà; 50g hành tây; 10g cần; 1 củ cà rốt; 20ml whipping cream; Dầu olive.

Cách chế biến:

  1. - Bằm nhỏ hành tây cần tây xào cùng dầu olive, sau đó cho thịt gà băm nhỏ theo độ thô của bé ăn vào xào săn.
  2. - Tiếp đó cho bí đỏ thái lát mỏng, cà rốt thái mỏng vào xào rồi đổ ngập nước đun trong khoảng 15 phút.
  3. - Sau khi súp chín mang súp đi xay nhuyễn, cho ra bát và đổ kem lên trên bề mặt và cho bé thưởng thức ngay khi súp còn nóng.
  4. - Ngoài ra các mẹ có thể tự lên thực đơn với bí đỏ cho bé yêu tại nhà. Bí đỏ sẽ rất ngon khi được kết hợp với táo, chuối, đào, cà rốt, khoai lang, thịt gà và sữa chua.

Một vài lưu ý khi chế biến bí đỏ cho bé

Bí đỏ cần được chế biến ngay sau khi thái và các mẹ nhớ khi nào cho bé ăn hãy đun bí đỏ. Nếu không cho bé ăn ngay sau khi nấu được thì mẹ phải bảo quản bí đỏ trong tủ lạnh. Lúc này màu sắc của bí đỏ có thể chuyển sang màu cam nâu nhưng các mẹ cũng đừng lo vì đây là hiện tượng hoàn toàn bình thường.

Các mẹ cũng nên chú ý đừng đun hầm bí đỏ quá lâu sẽ làm giảm thiểu lượng vitamin và khoáng chất. Nướng lò chính là cách chế biển tốt nhất để đảm bảo được tối đa các dưỡng chất có trong bí đỏ. Tuy nhiên, dù chế biến theo cách nào mẹ cũng nhớ loại bỏ hết phần hạt trong quả đi nhé !

Các loại cháo bí đỏ cho trẻ

CHÁO TÔM BÍ ĐỎ

Đây là loại cháo trẻ nhỏ thích ăn nhất, nếu các Mẹ biết cách nấu và cách
trình bày bắt mắt thì vấn đề ăn uống sẽ trở nên rất dễ dàng đối với trẻ, đặc biệt là những trẻ biếng ăn

Nguyên liệu:

  1. - Gạo 20gr
  2. - Tôm tươi bóc vỏ 30gr
  3. - Bí đỏ 30gr
  4. - Nước 250ml
  5. - Dầu ăn 10gr
  6. - Nước mắm hoặc muối iốt

Cách làm

  • - Gạo lựa sạch, vo sơ, ngâm 30 phút, giã giập, nấu cháo chín mềm (20-30 phút). Sau đó cho bí đỏ vào nấu chung.
  • - Tôm quyết nhuyễn, tán với chút nước, cho vào cháo, khuấy đều. Nêm muối iốt hoặc nước mắm (nên nêm nhạt)
  • - Múc ra chén thêm 1 muỗng cà phê dầu ăn rồi cho bé dùng ấm

Lợi ích của bí đỏ và hướng dẫn cách chế biến các loại cháo bí đỏ cho trẻ  phần 3

CHÁO BÍ ĐỎ THỊT GÀ

Nguyên liệu:

  1. - 50gr thịt gà
  2. - 80gr gạo tẻ
  3. - 50gr bí đỏ
  4. - 1/2 thìa cafe đường, 1/4 thìa cafe muối, 2 thìa cafe dầu ăn dinh dưỡng
  5. - 300ml nước dùng

Cách làm:

  • - Thịt gà băm nhỏ, cho khoảng 2 thìa cafe nước lọc vào tán đều
  • - Bí đỏ hấp chín, tán nhuyễn
  • - Gạo tẻ nấu cháo, sau đó cho thịt gà, bí đỏ vào nấu chín. Nêm muối, đường vừa ăn.
  • - Múc cháo ra tô, trộn đều với dầu ăn dinh dưỡng, cho bé dùng khi còn âm ấm.

Chế biến món Cháo lươn, bí đỏ cho con

Lợi ích của bí đỏ và hướng dẫn cách chế biến các loại cháo bí đỏ cho trẻ  phần 4

Nguyên liệu:

  1. - Bột gạo: 4 muỗng canh vun (20 g)
  2. - Bí đỏ băm nhuyễn: 1 muỗng canh vun (20 g)
  3. - Hạt sen hấp chín tán nhuyễn: 1 muỗng canh vun (20 g)
  4. - Thịt lươn băm nhuyễn: 1 muỗng canh gạt (10 g)
  5. - Dầu: 1 muỗng canh gạt (5 g)
  6. - Nước: 1 chén đầy (250 ml)

Cách làm:

  • - Cho lươn, bí đỏ vào nước khuấy đều cho tan, bắc lên bếp nấu chín.
  • - Nhắc xuống để nguội bớt (khoảng 2 phút).
  • - Cho bột gạo và hạt sen đã chín vào khuấy cho cháo thật mịn.
  • - Cho dầu ăn vào khuấy đều và cho bé thưởng thức

Bí đỏ không chỉ có màu sắc đẹp hấp dẫn với con mà bí đỏ con chứa nhiều tinh bột, vitamin A, vitamin C cao… nên rất tốt với sự phát triển của con yêu. Các mẹ nên thường xuyên cho bé ăn bí đỏ nhé. Chúc các mẹ và các bé luôn khỏe mạnh!

Chương 4: Thiên tài được sinh ra như thế nào?

I.
“Giả sử ta có 2 con chó. Chúng được sinh ra từ cùng một mẹ, được nuôi dưỡng và dạy dỗ như nhau . Nhưng 1 con thì rất thông minh nhanh nhẹn, 1 con lại ngốc nghếch chậm chạp. Điều này hoàn toàn là bẩm sinh.”
Đây là một ví dụ được tác giả Riso đưa ra trong cuốn Emil. “Có 1 con ngựa có 2 thân, tương ứng với 2 cái đầu. Một cái đầu được trao cho 1 người nông dân tham lam. Người này ngay lập tức sử dụng nó để kiếm tiền, và kết quả ko thu được là bao. Cái đầu còn lại được trao cho 1 người nông dân khôn ngoan dạy bảo, sau trở thành một con ngựa rất có ích.” Đây là nội dung truyện ngụ ngôn Pestamotch.
Hai câu chuyện này đại diện cho hai quan điểm về phẩm chất và hoàn cảnh. Người thứ nhất đề cao phẩm chất thiên phú, cho rằng số phận con người được thế nào là do ông Trời ban cho, không phụ thuộc vào hoàn cảnh. Người thứ hai thì ngược lại, cho rằng hoàn cảnh là yếu tố quan trọng hơn. Từ xưa đến nay phần lớn có ý kiến giống như Riso, chỉ có rất ít người có suy nghĩ như Pestamotch.
Người tiên phong có quan điểm giống như Pestamotch là Elvecius. Ông này cho rằng trẻ con sinh ra hoàn toàn giống nhau, việc chúng trở thành thiên tài, nhân tài, người bình thường hay kẻ dốt nát, đều là do môi trường sống, đặc biệt là môi trường sống những năm đầu đời, tạo nên. Ông phủ nhận hoàn toàn sự khác biệt về tố chất.
Witte cha có vẻ là người đã tiếp thu tư tưởng của Elvecius, tuy nhiên ông tiến bộ hơn ở chỗ không phủ nhận giá trị của tố chất. Ông cũng được cảm hóa bởi quan điểm Pestamotch, điều này thể hiện rất rõ trong phần đầu cuốn sách của ông: “Độc giả có thể nghĩ rằng cuốn sách của tôi viết ra để cho những nhà giáo dục tham khảo, nhưng không phải như vậy. Những nhà giáo dục coi tôi như kẻ thù, có muốn viết cho họ tham khảo cũng không được. Từ trước đây rất lâu tôi vẫn nói rằng, giáo dục tốt có thể khiến cho 1 đứa trẻ bình thường trở nên phi phàm. Và, kết quả sự giáo dục của tôi là con trai tôi đã trở thành người đúng như thế. Điều này khiến cho những người khác đặt câu hỏi, rằng các nhà giáo dục tại sao lại không dạy dỗ các học trò của mình như Witte, phải chăng họ không có năng lực? Đòi hỏi này là vô lý, và tôi đã cố làm rõ ngay từ đầu nhưng vô hiệu. Vì tôi mà những nhà giáo dục bị cho là bất tài, cho nên họ có coi tôi như kẻ thù thì cũng là dễ hiểu. Trên thực tế, nếu giáo dục trong gia đình mà không tốt, thì dù các nhà giáo dục có tài giỏi bao nhiêu cũng không thể có hiệu quả được.
Vậy tại sao tôi lại công bố cuốn sách này? Là vì những người ghét tôi dù có rất nhiều, nhưng những người ủng hộ tôi cũng không ít. Đó là những người bạn luôn tin tưởng động viên tôi trong suốt thời gian qua, từ đáy lòng mình tôi rất biết ơn họ. Chính họ đã rất khuyến khích và mong mỏi tôi công bố phương pháp giáo dục của mình. Tôi không cam đoan
PHƯƠNG PHÁP giáo dục của tôi nếu được áp dụng sẽ mang lại thành công giống như tôi. Ngoài ra, cũng không phải mọi đứa trẻ đều cần được giáo dục như con tôi. Nhưng tôi tin rằng phương pháp của tôi nếu được áp dụng với bất kỳ ai, ít nhiều cũng sẽ mang lại hiệu quả.
Pestamotch là người đầu tiên thừa nhận phương pháp giáo dục của tôi, cho rằng tôi chắc chắn sẽ thành công. Ông cũng là người khuyên tôi công bố cuốn sách. Giáo sư Julian ở trường ĐH Bali cũng khuyên như vậy. Khi tôi quyết định viết sách cũng đúng là lúc tôi nhận được thư của Pestamotch: “Tôi nhớ 14 năm trước, anh đã từng nói về vđề giáo dục ở Bufza. Hồi đó anh nói sẽ áp dụng phương pháp giáo dục đặc biệt của mình để đạt hiệu quả tốt nhất cho con, nay đã 14 năm trôi qua, tôi thấy con trai anh đã vượt xa cả dự định ban đầu. Nhưng có nhiều người không biết điều đó, họ nghĩ con trai anh sinh ra đã như thế rồi chứ không phải là thành quả giáo dục của anh. Nhân dịp này anh hãy công bố phương pháp của mình, chắc chắn nó sẽ có ích cho nhiều trẻ em khác. Tôi nghĩ đây là một việc nên làm và tôi tha thiết mong anh hãy nhanh chóng thực hiện.”
Tuy nhiên, đáng tiếc là ngày nay vẫn rất ít người có suy nghĩ như Witte cha. Cho dù giá trị của giáo dục cũng đã được thừa nhận nhưng tôi cho rằng nó vẫn chưa được nhận thức đầy đủ.
II.
Chúng ta biết rằng, Sir Francis Galton, là người khởi xướng học thuyết ưu sinh. Ông cho rằng năng lực trí tuệ là dựa trên những yếu tố thể chất và thực sự là những đặc tính di truyền, cũng như màu mắt hay nhóm máu. Vì thế những người thông minh và khỏe mạnh nên được đối xử tốt, trả lương cao, và nên khuyến khích họ có nhiều con cái. Còn những người chẳng ra gì nên được đối xử tử tế miễn là họ phải chịu khó làm việc và ở độc thân, không kết hôn.
Học thuyết đó đưa ra ví dụ sau: Cách đây hơn 200 năm, ở Mỹ có một nhà bác học đa tài Jonathan Edwards, một nhà thần học, triết học, nhà thuyết giáo nổi tiếng nhất trong cộng đồng Tin lành. Con cháu ông hiện đã đến đời thứ 7, 8. Trong số đó Hiệu trường các trường ĐH có 13 người, giảng viên ĐH hơn 100 người, sáng lập viên ĐH 14 người, Bác sỹ hơn 60 người, Mục sư hàng trăm người, Quân nhân 75 người, Nhà văn hơn 80 người, Phó tổng thống
1 người, Đại sứ 1 người, Thượng hạ viện hơn 20 người, Chủ bút các báo và tạp chí 18 người. Có thể nói đây là dòng họ cực kỳ thành đạt.
Cũng khoảng 200 năm trước, có một người nghiện rượu là Marks Juke, con cháu cũng được 7,8 đời. Trong số đó nghèo khổ thiếu ăn hơn 300 người, phạm tội bị tử hình 7 người, cướp bóc trộm cắp 63 người, chết và tàn phế vì nghiện rượu hơn 400 người, bị đưa vào trại giáo dưỡng 50 người. Số người sống bình thường có khoảng 20 người, nhưng 10 người trong số đó làm việc trong các nhà tù.
Trong thuyết ưu sinh có rất nhiều các ví dụ tương tự như vậy, qua đó có thể thấy rõ ràng là vấn đề di truyền rất được coi trọng. Ta lại xem đến 1 ví dụ khác: Ở New York có 1 hiệp hội tương trợ trẻ em (Children’s Aid Society) chuyên nuôi dưỡng các trẻ em nghèo, trẻ em bị bỏ rơi, cô nhi. Nhưng hội này có cách làm khác với cô nhi viện. Với phương châm là những đứa trẻ này phải được giáo dục tốt trong những gia đình tốt, chúng được cho làm con nuôi cùng với một số tiền tương ứng tại những gia đình đã được lựa chọn chu đáo. Hội này đến nay đã có lịch sử hơn 50 năm, những trẻ em được cho làm con nuôi khoảng 28000 trẻ. Chúng hầu hết là con của những người bần hàn, khốn khổ, vì thế nếu nhìn từ quan điểm của thuyết ưu sinh thì sẽ không có triển vọng gì, nhưng thực tế chúng lại có thành tích rất tốt.Theo báo cáo gần đây, 7/8 rất thành đạt, trong đó có cả những người đứng đầu bang. Thống đốc Alaska cũng từng ở đó. Có người làm Thẩm phán cấp cao, có người làm Thị trưởng, có người làm Thanh tra tài chính bang, 2 người trong Hạ nghị viện, Ủy viên bang 9 người, quan chức chức trọng yếu hơn 20 người, Mục sư 24 người, Luật sư 35 người, Bác sỹ 19 người, Phóng viên 16 người, Chủ ngân hàng 29 người, giáo viên 86 người, Hiệu trưởng trường Trung học 7 người, Giảng viên ĐH 2 người, ngoài ra những người thành công trong nông nghiệp, thương nghiệp nhiều không kể xiết. Số còn lại cũng có những người bị trả về, có người chết, có người bỏ trốn, có người phạm tội, nhưng đó hầu hết là những trẻ được đưa vào hội khi đã khá lớn. Về cơ bản Hiêp hội này có những thành quả rất tốt.
Vậy nguyên nhân của thành công này là gì? Nói một cách đơn giản, đó là nhờ môi trường tốt và giáo dục tốt. Người đứng đầu bang Dacoda và thống đốc bang Alaska đã nói ở trên đều là con nhà nghèo và bị bố mẹ bỏ rơi được đưa về hội, sau ra làm con nuôi cho một gia đình nông dân, nhưng đều được hưởng nền giáo dục rất tốt. Một điều thú vị là mới đây, con cháu đời thứ 9 của Marks Juke trong ví dụ trước cũng được đưa vào hội và đã được một gia đình nhận nuôi . Hiện cậu bé 12 tuổi, đang học rất giỏi ở trường và được đánh giá là có nhiều triển vọng.
Đưa ra những ví dụ trên không có nghĩa tôi hoàn toàn phản đối thuyết ưu sinh. Tôi thừa nhận vai trò của di truyền. Nhưng nếu chỉ bám vào thuyết này và cho rằng vận mệnh con người cũng di truyền, phụ thuộc vào chủ yếu vào yếu tố thiên bẩm, coi nhẹ ý nghĩa của giáo dục, là một quan điểm sai lầm. Những trẻ em dù theo thuyết ưu sinh là không hề có triển vọng, nhưng nếu được giáo đúng cách ở một môi trường lành mạnh hoàn toàn có thể trở nên hết sức thành đạt. Tôi khẳng định Giáo dục có thể mang lại kết quả lớn hơn rất nhiều so với những gì người ta có thể tưởng tượng.
III.
Như đã trình bày trong phần đầu cuốn sách này, người dân Athene mặc dù số lượng ít nhưng lại rất nhiều thiên tài. Galton cũng đã thấy điều đó, và ông cho rằng người Hi Lạp là 1 dân tộc xuất chúng. Ông viết: Người Hi Lạp ưu tú hơn hẳn chúng ta (Âu Mỹ) như chúng ta hơn người châu Phi vậy. Thật đáng tiếc cho ông, khi nói về vấn đề thiên tài, ông đã không biết nhìn từ khía cạnh nào khác ngoài khía cạnh thiên bẩm. Vì thế ông, cũng như rất nhiều người, không thể nhận ra giá trị của giáo dục. Việc có nhiều thiên tài ở Athene, cũng có thể bởi vì đó là 1 dân tộc ưu tú. Nhưng, hơn thế nữa, đó là vì người Hi Lạp có tập quán giáo dục sớm. Nhưng Galton không chú ý đến điều này, do vậy quan điểm thiên tài của ông là không đầy đủ.
Galton đã đưa ra những ví dụ về thiên tài mang yếu tố di truyền, và ông tập trung vào lập luận theo hướng đó. Nhưng, những thiên tài do di truyền đặc biệt hiếm.Vấn đề đặt ra là tại sao lại như thế?
Theo thuyết ưu sinh, khả năng của con người cũng được di truyền, về lý thuyết là có thực. Nhưng sự di truyền của khả năng không giống như sự thừa kế tài sản. Tài sản là thứ hữu hình, còn khả năng là vô hình. Cái mà cha mẹ truyền cho con cái chính là khả năng tiềm tàng, nhưng nếu khả năng đó cứ để nguyên như thế sẽ không phát huy tác dụng. Những người theo thuyết ưu sinh cho rằng, khả năng tỉ lệ thuận với tố chất. Nghĩa là, nếu tố chất được 80, dù tốt xấu thế nào thì khả năng cũng sẽ được gần 80, nếu tố chất là 60 thì sau cùng khả năng sẽ đạt
gần 60. Nhiều người lại cũng cho rằng, trẻ sinh ra mà tố chất ưu việt thì sớm muộn cũng thành thiên tài. Điều này là sai lầm. Thực tế nếu trẻ không được giáo dục đúng thì có khi chỉ phát huy được 1 nửa. Và, đối với 1 thiên tài, thì tố chất trời ban là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là làm thế nào đê phát huy tố chất đó.
Nói như vậy không có nghĩa tôi không thừa nhận yếu tố thiên bẩm của 1 thiên tài. Tôi thừa nhận, nhưng nếu chỉ có tố chất thôi chưa đủ. Tố chất đó phải được phát huy trọn vẹn. Đáng tiếc là trên đời này có rất nhiều người sẵn có tố chất, nhưng vì không được phát huy nên cuối cùng chỉ trở thành người bình thường. Thiên tài hiếm hoi chính là vì thế.
IV.
Moro, Ronblozo, Hagen, nói rằng thiên tài là một loại biến thể ,cũng giống chứng bệnh tâm thần. Tôi thì không tin như vậy. Tôi tin vào thuyết của Gete, của Buffon. Buffon nói rằng, thiên tài là sự kiên nhẫn. Còn Gete nói, thiên tài là sự cần cù.Shobenhuar lại nói, thiên tài là sự quên mình vì người khác. Ngoài ra tôi xin bổ sung thêm, thiên tài còn là lòng nhiệt huyết nữa.Tựu trung lại ta đã có hình ảnh của một thiên tài – một người nhẫn nại, cần cù, nhiệt thành, đầy đam mê, vị tha và giàu đức hi sinh.
V.
Không quan trọng – lan man.
VI.
Chúng ta hãy cùng quay trở lại vấn đề chính. Thiên tài, như đã đề cập ở trên, có một đức tính đặc trưng là sự say mê mãnh liệt và tập trung cao độ. Ta cũng thấy ở trẻ con từ khi còn ẵm ngửa thực ra không hề ngốc nghếch mà đã có khả năng tập trung và sự hứng thú với mọi vật. Điều này, những người thường xuyên quan sát kỹ trẻ con sẽ dễ dàng nhận thấy.
(Witte cha có viết về phương pháp của mình là khi thấy con tập trung chú ý vào cái gì thì thường hướng vào cái đó để nói). Thực tế trẻ con rất có khả năng tập trung, nếu ta nắm bắt
được “ngọn lửa nhiệt huyết” đó đúng lúc và kiên trì giúp trẻ phát triển thì kết quả thu được sẽ là sự phát huy tối đa năng lực, mà như thuyết Lạt-ma nói, là “nếu sử dụng thì sẽ phát huy”. Thiên tài được sinh ra chính là như thế.
Thế nhưng, tại hầu hết các gia đình, ngọn lửa của niềm hứng thú và nhiệt huyết của trẻ lại thường bị thổi tắt, chẳng khác nào bị dội một gáo nước lạnh, chẳng khác nào mầm cây mới nhú ra đã bị dẫm nát, cho nên việc thế giới khan hiếm thiên tài chính là bởi vì lý do đó. Ngọn lửa này, nếu như ngay từ đầu đã được trợ giúp và khuyến khích để phát triển theo đúng trình tự thì chắc chắn sẽ tạo ra một thiên tài, hay ít ra là một nhân tài. Đây chính là vấn đề của Giáo dục từ sớm.
Nhưng từ xưa đến nay, không có mấy ai áp dụng phương pháp Giáo dục sớm, vậy thiên tài do đâu mà có? Đương nhiên, một phần do họ thừa hưởng khả năng thiên phú dồi dào, và trong tuổi thơ của mình, họ không bị vùi dập nhiệt huyết kiểu dẫm nát mầm cây, họ là những người may mắn được phát triền đúng hướng. Có điều số đó cũng rất ít, và thiên tài trở nên giống như trò chơi xổ số, trong hàng ngàn vạn người mới có một. Còn nếu được giáo dục khôn khéo, sáng suốt, thì muốn có bao nhiêu thiên tài cũng được. Đó chính là sự cần thiết của giáo dục đúng cách.
Tuy nhiên, việc nắm bắt sự hứng thú mãnh liệt và sự tập trung cao độ của trẻ càng để lâu càng khó. Không những thế, sự phát huy khả năng tiềm tàng của trẻ cũng càng ngày càng giảm. Cho nên, giáo dục sớm và đúng lúc là hết sức cần thiết.
Còn một vấn đề nữa là về vấn đề lao động. Những người thợ trên công trường nước ta, một ngày họ lao động tới 18 tiếng, nhưng năng lực trí tuệ của họ không hề được phát huy chút nào. Chỉ có sự vui chơi thoải mái mới làm cho người ta dễ dàng phát triển. Vì vậy, tôi lưu ý độc giả rằng, không được bắt con mình lao động vất vả. (hơi khó hiểu).
VII.
Như đã đề cập ở trên, trong phần lớn các gia đình, ngọn lửa của niềm hứng thú và lòng say mê của con trẻ thường bị người lớn dập tắt. Nhưng đôi khi có những niềm đam mê không dễ dàng bị vùi dập mà lại ngày càng bùng cháy , và thiên tài chính là từ đó mà sinh ra. Ngọn lửa nhiệt huyết ấy, một khi đã cháy lên rồi thì sẽ không thể nào dập tắt được. Trường hợp của
nhà soạn nhạc Hendel là một ví dụ. Cha ông có ý định cho ông theo học ngành luật, nhưng ngay từ lúc 5 tuổi Hendel đã có hứng thú đặc biệt với âm nhạc. Cha ông tìm đủ mọi cách để ngăn cấm, thậm chí còn không cho ông đến trường vì ở trường có dạy môn âm nhạc. Nhưng mọi biện pháp khi đó đều đã muộn, niềm đam mê âm nhạc của Hendel không cách gì có thể ngăn cản. Ông giấu cha mẹ mua một cây đàn spinet, buổi tối sau khi cả nhà đã ngủ say, ông trèo lên mái nhà và tập đàn trên đó. Trường hợp của Bach cũng tương tự như vậy. Anh trai Bach cũng là một nhạc sỹ, nhưng vì ganh ghét với em từ nhỏ nên không cho mượn các bản nhạc. Nhưng Bach không từ bỏ. Vào lúc đêm khuya, ông lấy trộm các bản nhạc của anh và chép lại dưới ánh trăng. Cuối cùng, cả Hendel và Bach đều trở thành những nhạc sỹ vĩ đại như mọi người được biết.
Chúng ta cũng thường thấy, con của nhạc sỹ lớn lên trở thành nhạc sỹ, con của học giả lớn lên thành học giả,…, đó là vì sống trong cùng 1 gia đình, trẻ dễ dàng được nhìn, nghe, và bắt chước. Trong thuyết ưu sinh thì lại đề cập đến vấn đề này theo quan niệm đó là yếu tố di truyền, nhưng như thế là không đúng. Nếu hàng ngày được nhìn, được nghe, trẻ sẽ có hứng thú. Khi đã có hứng thú thì sẽ hướng sự tập trung vào đó. Cha của nhà Toán học và Vật lý học Galilei cũng là một nhà Toán học, và Galilei cũng được tiếp xúc với Toán học từ nhỏ. Nhưng nhìn vào cuộc đời mình, Galilei-cha thấy rằng theo đuổi Toán học sẽ rất nghèo khổ, vì thế ông cố tránh để con theo nghiệp Toán. Nhưng ông nghĩ đến điều này sau khi ngọn lửa nhiệt huyết của Galilei-con đã bắt đầu được nhóm lên, vì thế những cố gắng dập tắt nó của ông đã là vô ích. Trường hợp của nhà thơ Tagore cũng giống như vậy, cha ông không muốn ông trở thành nhà thơ nhưng cuối cùng niềm đam mê nhiệt thành của ông đã chiến thắng.
Như vậy, lòng nhiệt huyết được thắp lên từ thời thơ ấu cùng với sự nỗ lực miệt mài có thể xem là cở sở để hình thành thiên tài. Lòng nhiệt huyết chính là ma lực tạo nên những điều kỳ diệu. Nhưng lòng nhiệt huyết này, nếu không có từ thời thơ ấu thì sau này cũng sẽ khó mà có được.
Nhìn lại tiểu sử của các thiên tài, ta thấy rẳng họ đểu là những người sớm bộc lộ ngọn lửa ham mê cháy bỏng, vì thế họ trở thành thiên tài cũng là lẽ tự nhiên. Theo cách nghĩ này, thì việc tạo ra người bình thường (tầm thường) thật đơn giản. Đó là không cho trẻ tập trung vào thứ gì cả! Nếu không tập trung thì sẽ không hứng thú – đấy chính là đặc trưng của người tầm thường. Thế nên, nền giáo dục cứ như hiện nay nếu không phải sẽ tạo ra những người tầm thường đã là hạnh phúc lắm rồi!
VIII.
Thiên tài, từ xưa đến nay, thường được biết đến như những tài năng sớm bộc lộ. Tìm hiểu về tiểu sử các thiên tài thì thấy rằng quả đúng như vậy. Trong số các thiên tài, đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật, ta thấy hầu hết họ đều thể hiện tài năng phi phàm khi mới 6, 7 tuổi, hay thậm chí từ lúc 3, 4 tuổi. Sáng tác nhạc thì thường vào 11,12 tuổi. Mozart bắt đầu sáng tác từ khi mới 4 tuổi, viết nhạc kịch khi 12 tuổi, khiến cả châu Âu khi đó phải bàng hoàng kinh ngạc. Bethoven và Hendel cũng bắt đầu sáng tác ở tuổi 13…(Ở đây còn có thêm 1 số ví dụ khác về các thiên tài của nhiều lĩnh vực).
Những ví dụ như thế này có kể cả ngày cũng không hết. Vậy tại sao hầu hết các thiên tài lại là những người phát triển sớm? Vì, như đã nói ở các chương trước, mỗi đứa trẻ khi ra đời được trời phú cho một năng lực tiềm tàng, mà năng lực này nếu được phát huy ngay từ đầu thì sẽ mang lại hiệu quả tối ưu, còn nếu để muộn thì sẽ giảm đi đáng kể. Những thiên tài chắc hẳn đều là những người được giáo dục từ sớm, nhưng những ghi chép về họ lại không mấy lưu ý đến vđề giáo dục sớm. Dù là thiên tài hay nhân tài, dù nhờ vào tự giáo dục hay nhờ vào sự giúp đỡ của người khác, họ đều được sinh ra từ trong nền giáo dục sớm. Kết quả của giáo dục sớm là làm cho những đứa trẻ vốn được trời ban cho nhiều ân huệ trở thành đại thiên tài, còn ngay cả con của những người bình thường nhất cũng sẽ có cơ hội trở thành nhân tài. Nhưng nhìn vào những ví dụ đã đưa ra, có những thiên tài dù ở trong hoàn cảnh nào đi nữa, chỉ dựa vào sự tự giáo dục, họ vẫn thành công. Điều này khiến cho không ít người nghĩ rằng, trên thế giới có những người “đặc biệt”, không cần giáo dục mà vẫn thành thiên tài – nhưng suy nghĩ này là hoàn toàn sai lầm!
IX.
Trong số các thiên tài cũng có nhiều người mà thành tích học tập lúc nhỏ lại rất kém, thậm chí có người còn bị cho là ngốc nghếch. (Ở đây lại đưa ra một loạt ví dụ, trong đó có Newton.)
X.
Vậy tại sao những thiên tài lại có thành tích học tập kém? Điều này cũng không được lý giải trong những ghi chép còn lại cho đến ngày nay, và việc tìm hiểu thực sự không hề đơn giản. Nguyên nhân cũng có nhiều, nhưng có một điểm chung là các thiên tài vốn là những người rất giàu đam mê.
Nhà nghiên cứu Đông dương học Krapmote là một học trò rất kém của trường đại học Berlin. Giám thị thấy trong suốt giờ thi ông không viết được chút gì bèn bảo: “ Em đúng là chẳng biết gì cả nhỉ?” . Ông trả lời: “Không ạ, em biết tiếng Trung Quốc”. Tìm hiểu ra thì thấy ông đặc biệt ham thích tiếng Trung Quốc và đã một mình miệt mài học. (một số ví dụ cùng loại)
XI.
Gần đây, khi nhà văn lớn Natsume Soseki qua đời, thi thể của ông đã được giải phẫu. Kết quả là não của ông lớn hơn người bình thường rất nhiều. Trước đó, giải phẫu thi thể của Katsuraku cũng có kết luận tương tự. Nhìn vào đó, nhiều người nghĩ rằng, quả đúng là vĩ nhân có khác… Cách nghĩ này cũng không có gì xấu, tuy nhiên nếu cho rằng ngay từ khi sinh ra mà có bộ não to thì sẽ trở thành vĩ nhân, não nhỏ thì sẽ không làm được gì, suy nghĩ đó hoàn toàn không đúng.
Quả thực, não của động vật cấp cao thì lớn hơn động vật khác. Chúng ta đã tiến hóa từ vượn người, đến người nguyên thủy cổ đại, người nguyên thủy cận đại, rồi thành người hiện đại ngày nay. So sánh kích thước não của từng giai đoạn này cho thấy kích thước não cũng lớn dần. Chính những điều này khiến người ta dễ nghĩ rằng thiên tài hẳn phải có bộ não lớn hơn người bình thường. Nhưng sự thực không phải như vậy. Nói chung thì có khá nhiều trường hợp những người ưu tú đồng thời sở hữu bộ não lớn. Tuy nhiên đó chỉ là ở những ví dụ được công bố. Còn rất nhiều những nghiên cứu khác về các thiên tài cho thấy rằng não của họ hoàn toàn không lớn hơn người bình thường, thậm chí có trường hợp còn nhỏ hơn.
Tóm lại, có thể khẳng định thiên tài không phải là do bẩm sinh.
XII.
Theo như những người thuộc phái Ron Brozo, thì thiên tài là một loại biến thể, cũng giống với chứng bệnh về tinh thần. Luận điểm này là cực kỳ sai lầm, phản bác lại thực tế. Những nghiên cứu mới cho thấy các thiên tài đa phần có tuổi thọ cao hơn người bth. Dolrando đã lựa chọn để tìm hiểu 400 vĩ nhân ở 21 lĩnh vực khác nhau của Âu Mỹ trong vòng16 thế kỷ, người đoản mệnh nhất là một thi nhân – 58 tuổi, người sống lâu nhất là 1 nhà phát minh – 97 tuổi, tuổi thọ trung bình khoảng 66, 67.
Việc các thiên tài có tuổi thọ cao là do đặc tính của họ – giàu hứng thú và nhiệt huyết. Người ta vẫn thường nói học sinh mà thức khuya thì có hại nhưng học giả mà thức khuya thì không. Đó là vì học sinh vừa thức học vừa chán ngán, còn học giả thì rất tích cực và hứng thú. Nếu chúng ta mà cứ nghĩ về những việc chán ghét thì cuộc sống sẽ ngắn lại – đó là sự thực. Cuộc sống sẽ tốt nhất khi người ta thực sự khoan khoái và hài lòng. Thiên tài là những người rất cần mẫn, và sự cần mẫn đó dựa trên niềm say mê, hứng khởi, vì thế ko những không có hại mà còn tốt cho sức khỏe. Say mê theo đuổi hứng thú của mình , đó là hạnh phúc của các thiên tài mà người bình thường không mấy khi biết đến.
Có những thiên tài, vì quá cần mẫn, dẫn đến quá sức mà sinh bệnh – những chứng bệnh về tinh thần, hay thậm chí phát điên, song đó chỉ là thiểu số, không phải đặc trưng của các thiên tài. Như vậy, thuyết Thiên tài biến chất của Ron Brozo là không đủ cơ sở. XIII. Nước ta có một câu thành ngữ “ Dưỡng dục hơn gia thế”. Đây là một thành ngữ mang ý nghĩa rất sâu sắc. Gia thế ở đây là sự di truyền, là yếu tố mang tính bẩm sinh. Sự dưỡng dục là là hoàn cảnh, là nền giáo dục. Chỉ một câu thành ngữ này đã mang đầy đủ những gì tôi muốn nói về sự hình thành thiên tài – hoàn cảnh và giáo dục góp phần quan trọng hơn di truyền hay thiên bẩm.

Chương 3: Anh em Thomson – Mill – Goethe được giáo dục sớm như thế nào?

I.
Cha của Witte đã lưu lại phương pháp giáo dục của mình. Nếu như cha của Thomson và Mill cũng ghi lại phương pháp giáo dục của họ thì sẽ có ích cho chúng ta biết bao. Chính vì ông không ghi chép lại nên chúng ta không thể hiểu tường tận về phương pháp giáo dục mà anh em nhà Thomson và Mill đã được tiếp thu. Tuy nhiên sau đây tôi sẽ giới thiệu những hiểu biết của mình về phương pháp này.
Cha của anh em Thomson tên là James Thomson như đã nói trên. Anh em Thomson được sinh ra khi cha của họ đang là giáo sư của một trường chuyên ngành ở Beltfast (Một thành phố trung tâm của Bắc Ireland). Cũng giống như cha của Witte, khi anh em Thomson vừa biết nói là ông bắt đầu dạy họ. Phương pháp này được bắt đầu bằng cách truyền sự đam mê qua ngôn ngữ.
Sau đây là chuyện kể của người chị Thomson:
Trước mỗi bữa sáng cha Thomson dắt 4 anh em đi dạo. Trong khi đi dạo thể nào ông cũng có 1 câu chuyện thú vị để kể cho các con. Và ông sắp xếp sao cho cả bốn người con đều lần lượt được nắm tay cha, điều này đã làm cho anh em Thomson rất hạnh phúc. Anh em Thomson thích thú lắng nghe những câu chuyện của cha. Cha họ kể về những chuyến vượt biển đến Ấn Độ – Trung Quốc. Những chuyến ngược sông Nile gặp người da đen. Những chuyến thám hiểm sâu trong lục địa châu phi gặp sư tử, voi. Chuyện cưỡi lạc đà du lịch qua sa mạc. Thám hiểm vùng băng tuyết ở Bắc Cực. Phiêu bạt trong cánh rừng hương ngào ngạt ở Sri Lanka. Quay trở về mấy ngàn năm trước cùng với người Spartan tấn công thành Troy. Hay lên thuyền của Odysseus (một nhân vật trong chuyện cổ của Anh) và lạc trên biển. Tham gia vào đội quân của Alexander viễn chinh châu Á.
Qua câu chuyện kể của người chị thì cha họ đã làm điều giống như cha của Witte đã từng thực hiện. Cha họ không nói chuyện một mình, ông kích thích trí tưởng tượng của các con, giúp con cùng tham gia vào câu chuyện.Bằng phương pháp này ông đã dạy ngôn ngữ cho anh em Thomson và làm phong phú kiến thức của họ. Ông còn tận dụng thời gian trong bữa ăn nói chuyện rất nhiều với con.
II.
Ông James Mill cha của Mill là học giả nổi tiếng trong các lĩnh vực triết học, kinh tế, lịch sử hơn nữa ông cũng là nhà tâmlý học nổi tiếng.Hình như từ việc nghiên cứu tâm lý ông đã nhận ra rằng giáo dục từ sớm là điều cần thiết. Tuy nhiên cũng giống như cha của anh em Thomson ông không để lại tài liệu nào về phương pháp giáo dục của mình, đây là điều rất đáng tiếc.Nhưng trong tự truyện của mình Mill đã ghi lại phương pháp giáo dục mà ông được thụ hưởng thời thơ ấu.
Trích tự truyện “Tôi đã sống một cuộc sống không có những sự kiện đặc biệt, đó thật sự là một cuộc sống cự kỳ đơn điệu. Chính vì vậy khi đọc tự truyện của tôi chắc người khác sẽ không thấy thú vị. Gần đây giáo dục của nước nhà đang được tiến hành nghiên cứu, tôi viết tự truyện này vì nghĩ rằng phương pháp giáo dục mà cha tôi tiến hành sẽ có ích cho các nhà nghiên cứu.
Tôi đã được nhận một sự giáo dục khác thường từ cha mình. Thông thường trẻ em sẽ tiêu phí khỏang thời gian thơ ấu của mình. Nhưng nếu nhìn từ phương pháp giáo dục mà tôi được tiếp nhận thì những đứa trẻ có thể sẽ tiếp thu được một lượng tri thức khổng lồ ở thời kì thơ ấu thường bị bỏ qua một cách lãng phí này.”
Đọc trích đọan trên có lẽ bạn đã hiểu mục đích viết tự truyện của Mill. Tuy nhiên nếu có được ghi chép từ người dạy sẽ tốt hơn những ghi chép của người học.
Mill được sinh vào năm 1806, theo tự truyện của Mill thì từ năm 3 tuổi ông đã được học tiếng Hy Lạp, nên có thể đóan rằng ông được học tiếng mẹ đẻ từ 1,5 tuổi. Ông học tiếng Hi Lạp bắt đầu bằng việc nhớ những từ ngữ thông thường.Cha Mill làm cho ông những tấm bìa cứng ghi những câu ngắn và nghĩa của nó.Theo đó Mill đã nhớ được những câu ngắn thông thường. Sau khi nhớ được những câu ngắn Mill bị bắt đọc sách tiếng Hi Lạp ngay cho dù cậu
không hiểu. Những truyện Mill đọc đầu tiên là “Ngụ ngôn Aesop”,tiếp đến là “Tòng quân ký ” của Xenophon. Giống như cha của Witte, cha của Mill cũng không dạy ngữ pháp, ông chỉ dạy ngữ pháp cần thiết khi không thể không dạy.
Quyển sách đọc tiếp theo là lịch sử của Merodotos, “Bảo Điển” của Xenophon và “Ngôn hành lục của” Socrates, – “Tự truyện của triết gia”của Diogenes,Laertius, Trước tác của Licien. Ông cũng từng phải đọc “Đối thọai” của Platon, nhưng kết cục theo ông là không hiểu gì.
Cha Mill viết sách nên rất bận rộn, hơn nữa ông lại là người rất nóng tính. Vì vậy ông đặt bàn học của Mill gần nơi mình làm việc và cho Mill học, lúc đó trên bàn học chỉ có từ điển Hy Lạp – Latinh, không có từ điền Hy lạp –Anh, Do Mill chưa biết tiếng Latinh nên phải hỏi cha ý nghĩa của rất nhiều câu đơn giản. Dù là người nóng tính và công việc rất bận rộn nhưng cha Mill đã dạy Mill rất chu đáo. Qua đó có thể thấy rằng cha Mill rất tận tâm trong việc dạy con mình.
Tuy nhiên có thể coi phương pháp giáo dục của cha Mill là hơi khác thường, có ý kiến cho là học lệch. Ông đã không dạy những điều gần gũi với thiên nhiên như cha của Witte. Witte học rất nhiều từ thiên nhiên còn Mill học chủ yếu từ sách.Hơn nữa ngòai học tiếng Hy Lạp, Mill chỉ được học toán. Và toán cũng không được chú trọng lắm nên Mill chỉ học môn này vào buổi tối. Ban ngày ngòai đọc sách tiếng Hy Lạp Mill còn đọc rất nhiều sách tiếng mẹ đẻ.
Mỗi ngày cha Mill dắt cậu đi dạo trước bữa sáng. Việc đi dạo này không chỉ nhằm giáo dục Mill mà còn vì sức khỏe của cha Mill. Cha Mill luôn vận động vì sức khỏe của mình. Trong khi đi dạo ông thường hỏi và bắt Mill nói về những quyển sách cậu đã đọc hôm trước. Chính vì vậy khi đọc sách Mill luôn ghi chép lại để có thể nói chuyện với cha. Mỗi buổi sáng Mill vừa nhìn những ghi chép này vừa nói chuyện với cha. Cha Mill vừa nghe vừa hỏi lại, sửa những chỗ sai, giải thích thêm những chỗ còn thiếu.
Trong giai đoạn này, những sách Mill đọc phần lớn là sách lịch sử bắt đầu bằng sách của Robertson, Hume, Gibbon, Mill đặc biệt thích “Thế hệ thứ 2 và thế hệ thứ 3 của dòng họ Philip” của Waston. Lịch sử Roma của Hooke .
Mill thường đọc đi đọc lại bản dịch tiếng Anh “Lịch sử cổ đại” của Roland, bản dịch tiếng Anh “ Truyện các anh hùng Hy Lạp” của Plutarchus. Ngòai ra Mill còn đọc rất nhiều các sách khác, các truyện ký, truyện thám hiểm, nhật ký hàng hải.Cha Mill rất ít khi cho con đọc tiểu thuyết nhưng những truyện nổi tiếng như Robinson Crusoe, Nghìn lẻ một đêm, Donkihote …Mill đều đã đọc. Đây là những sách mà Mill đã đọc cho đến 7 tuổi.
Như vậy, Witte con, với các trò chơi của mình, đã được bắt chước hầu hết các phương diện trong đời sống con người, và tất cả những việc này đều diễn ra từ khi rất nhỏ. Đó là vì ngay từ khi đó Witte cha đã nỗ lực phát triển 5 giác quan của con thông qua các trò chơi, theo đúng như tư tưởng của Monteski ngày nay.
Trò chơi của trẻ con ko nên chỉ là một việc vô ích, mà phải thông qua đó giúp trẻ sự dụng được cái đầu. Như thế trẻ cũng sẽ không thấy chán và không quấy khóc. Witte cha nói rằng “Con trai tôi, dù chỉ có rất ít đồ chơi nhưng vẫn không bao giờ thấy buồn tẻ, mà ngược lại, luôn vui vẻ hạnh phúc với số đồ chơi đó.”
VIII.
Nhà bác học Edison từng nói: “Phần lớn người dân nước ta ăn quá nhiều, vì thế năng lượng phải dồn xuống dạ dày để tiêu hóa hơn là cung cấp cho cái đầu làm việc”. Khi đó dạ dày sẽ phải làm việc hơn mức cần thiết, tương ứng với nó, bộ não lại không hoạt động. Người có cái bụng luôn no căng sẽ có xu hướng trì trệ.
Đọc tự truyện của Franklin cũng sẽ thấy sinh thời ông rất chú ý đến điều này. Và Witte cha, từ cách đó hàng trăm năm đã biết áp dụng với con trai đúng như thế. Ông cũng có suy nghĩ rằng, tinh lực của trẻ nếu chỉ tiêu hao vào việc tiêu hóa thì sẽ không thể phát triển não bộ. Vì thế trong quá trình nuôi dạy Witte, ông chủ trương không bắt con ăn nhiều hơn mức cần thiết. Trong khi đó có những đứa trẻ ăn không biết chán, ăn quá nhiều dẫn đến bị bệnh. Có điều đấy không phải là đặc điểm trời sinh của trẻ mà chính là do thói quen ăn uống phát sinh từ sự thiếu hiểu biết của bố mẹ. Đương nhiên ai cũng mong con chóng lớn, nhưng ko thể bừa bãi được mà phải có chể độ dinh dưỡng phù hợp.
Witte cha rất chú ý đến điểm này. Witte con chỉ ăn những thứ được cho phép, và điều đó cũng được dạy bảo hợp lý.Ông giải thích cho con nghe về tầm quan trọng của sức khỏe
như thế này: “Người ta nếu ăn quá nhiều thì cơ thể sẽ khó chịu, đầu óc sẽ kém minh mẫn, lâu dần sẽ sinh bệnh. Nếu bị bệnh thì không thể học được mà cũng chẳng thể chơi được. Không những thế, khi con bệnh thì bố mẹ cũng sẽ phải vì chăm sóc con mà không thể làm việc được.” Nếu thấy có đứa trẻ con nhà người quen biết bị ốm, Witte cha sẽ dẫn con đến thăm, không quên những lời giáo huấn từ thiết thực: “Đó con xem, bạn ấy vì ăn uống bừa bãi nên sinh bệnh đó…”
Ông kể lại, “Có lần 2 cha con đi dạo gặp người quen và nói chuyện như sau: -Xin chào, mọi người trong nhà có khỏe không ạ?
-Dạ cảm ơn.
-Chẳng phải cháu ở nhà bị ốm sao?
-Vâng, nhưng sao bác biết ạ?
-Cái đó tôi biết chứ, vì là sau Giáng sinh mà.
Tôi hoàn toàn không nói mò. Đứa trẻ đó ngày thường đã ăn quá nhiều, sau lễ Giáng sinh thì chắc chắn sẽ phát ốm. Sự thực đúng như vậy. Tôi đưa con trai đến thăm, đứa bé đó đang rên hừ hừ vì đau bụng và đau đầu, và khi nói chuyện thì quả thật là do ăn uống. Con trai tôi bên cạnh khi đó cũng đã tận mắt chứng kiến và hiểu được mọi chuyện. Nhờ cách giáo dục này mà Witte hầu như không bg bị ốm vì ăn uống. Khi đến chơi nhà người quen, được mời kẹo, nhưng dù có hấp dẫn thế nào và họ nói gì đi nữa thì con trai tôi vẫn không đụng đến. Mọi người nhìn vào, ko nghĩ đó là do Witte tự nguyện. Ai cũng cho rằng đó là do tôi quá nghiêm khắc. Suy từ bản thân họ và con họ thì đúng là không thể hiểu nổi tại sao Witte lại có thể tự kiềm chế như vậy. Nhưng nếu được dạy bảo từ đầu, chắc chắn đứa trẻ nào cũng sẽ giống như con tôi.”
Đúng như Witte cha nói, nhiều cha mẹ vì nuông chiều con nên để con ăn uống không có quy tắc, không có giới hạn, tạo cho con thói quen ăn uống bừa bãi. Điều đó làm giảm sút tinh thần và trí lực của trẻ. Và như thế dù có giáo dục từ sớm hay giáo dục kiểu gì đi nữa thì cũng không có hiệu quả.
IX.
Witte cha khuyến khích con toàn tâm toàn ý trong lúc học, phân biệt rõ ràng thời gian học và chơi. Còn phương pháp giáo dục của bản thân ông lại không mấy phân biệt điều đó. Khi chơi, khi đi dạo hay lúc ăn uống ông đều nỗ lực mở rộng hiểu biết cho con. Nói đến sự toàn tâm toàn ý ở đây là nói đến thời gian dành cho việc học. Như đã nói, ông bắt đầu dạy Witte tiếng Pháp từ khi lên 6. Đầu tiên mỗi ngày học 15 phút, trong thời gian đó Witte con phải tuyệt đối chuyên tâm vào việc học, nếu không sẽ bị mắng. Nếu mẹ hay người hầu có gì cần hỏi thì ông cũng sẽ nghiêm khắc từ chối “Bg thì không được, Karl đang học”.
Nếu có khách đến chơi ông cũng sẽ “Xin lỗi đợi tôi một lúc” và nhất thiết không rời khỏi ghế. Chính điều này giúp cho Karl hiểu được học có nghĩa là phải tập trung toàn bộ tinh thần.
Witte cha còn rèn luyện cho con thói quen làm gì cũng phải nhanh nhẹn hoạt bát. Nếu Witte con mà lần chần, chậm chạp thì dù có làm được việc ông cũng không vui. Kết quả của việc giáo dục này là Witte con làm gì cũng nhanh chóng và vì thế có rất nhiều thời gian cho việc vận động, nghỉ ngơi cũng như tham gia các hoạt động xã hội. Trên thực tế có nhiều người rất lãng phí thời gian, họ có thói quen rất xấu là trong khoảng 1 giờ thường chỉ loanh quanh luẩn quẩn chẳng làm được việc gì. Witte cha đã tránh cho con mình thói quen đó, và đến nhiều năm sau này Witte con vẫn thầm cảm tạ cha mình.
Về việc học Toán và Ngữ văn, Witte cha nghiêm cấm con mình học theo kiểu đại khái mà phải thật triệt để, tường tận, minh bạch. Ông coi việc đó cũng giống như xây một bức tường gạch, nếu không làm như thế thì nhất định không thể đạt kết quả. Trên thế giới có những người được gọi là học giả, và họ nói, họ viết bằng những “thuật ngữ” mà người khác không hiểu nổi, Witte cha cho rằng những người này, trong quá trình học tập nghiên cứu của mình đã có những điều chưa được lý giải chính xác, hoặc là đã hiểu và ghi nhớ một cách thô thiển. Ông đả kích những người này là Học giả “dổm”, chỉ đáng làm trò cười cho thiên hạ. Chủ trương giáo dục của ông là phải thật tường tận.
Đọc đến đây, người ta có thể nghĩ rằng chắc hẳn Witte cha đã mất rất nhiều thời gian để dạy con. Thực tế không phải như vậy. Ông là một mục sư với công việc rất bận rộn, muốn có nhiều thời gian cho con cũng không được. Hàng ngày ông chỉ dành 1-2 giờ để dạy con. Sức phát huy năng lực của con lớn hơn ông nghĩ rất nhiều. Ban đầu ông chỉ nghĩ là sẽ giáo dục để
Witte con không thua kém các bạn, đến 17-18 tuổi là có thể vào đại học… Còn việc khả năng của Witte con đã phát triển vượt xa cả mong đợi là điều ông không ngờ tới. Ông đã hứa là sẽ giáo dục con để sao cho “kỳ phát triển” không bị muộn, nên sau đó cũng cố gắng để thực hiện. Ông đã xác định từ đầu rằng sẽ phải mất nhiều công sức để giáo dục con, nhưng về sau những môn như Ngữ văn và nhiều môn học khác Witte đều tự mình học và nhớ được là chính. Đến năm 8, 9 tuổi thì học vấn của Witte con đã vượt hơn cả cha mình.
X.
Người đọc có thể cảm thấy PHƯƠNG PHÁP giáo dục của Witte cha là giáo dục “lệch”, chủ yếu nhằm nâng cao trí tuệ, còn ông lý giải về phương pháp Giáo dục của mình như sau:
“Mọi người nghĩ tôi giáo dục con theo phương châm đào tạo học giả, hơn nữa còn cho rằng tôi muốn con trở thành thần đồng, làm cả thế giới phải ngạc nhiên. Thực sự không phải như thế. Tôi chỉ muốn con tôi được phát triển toàn diện. Tôi đã hứa sẽ giúp con phát huy mọi khả năng sẵn có, và tôi nỗ lực để con tôi có thể lớn lên trở thành một người hoạt bát, khỏe mạnh, hạnh phúc. Bản thân tôi thích những người hoàn thiện cả về tinh thần và trí lực, rất ghét những kẻ gọi là học giả nhưng lại chỉ biết về 1 phía. Vì thể tôi dạy con cả tiếng Hy Lạp, tiếng La tinh, Toán học cũng là để giáo dục con theo hướng toàn diện ngay từ đầu.
Tôi cũng không phải người chỉ giáo dục tri thức cho con. Tôi và vợ tôi luôn động viên khuyến khích những sở thích cũng như trí tưởng tượng của con, đồng thời cũng cố gắng để con hiểu rằng yêu hay ghét không phải chỉ dựa trên cảm tính mà phải được quyết định bởi đạo đức và lương tâm.
Tôi ghét cái gọi là học giả, là những người giống như cái cây khô không có tình cảm và không thể kết bạn, những người chỉ chăm chăm vào cái mình biết, đi đến đâu, gặp bất kỳ ai cũng thao thao về chuyên môn của mình. Đó là những kẻ không bình thường, là trò cười cho thiên hạ. Tôi không muốn con tôi trở thành học giả theo kiểu đó. Chuyện con tôi là thần đồng chỉ là tin đồn nhảm. Thần đồng là gì chứ? Chẳng phải chỉ là hoa trong nhà kính hay sao? Nếu tôi mà có thể lập kế hoạch biến con mình thành thần đồng, chẳng phải là tôi đã mạo danh cả các vị thần làm công việc của họ hay sao?”
Nếu xét đến phương diện trí tuệ của 1 đứa trẻ, 8 tuổi biết 6 thứ tiếng, 9 tuổi vào đại học, 14 tuổi thành tiến sĩ, là một kết quả rất tuyệt vời, nhưng nhìn theo một khía cạnh khác thì có thể chỉ là bình thường. Những người thời đó, chỉ nhìn vào thành tích học tập của Witte con nên cho rằng phương pháp giáo dục của Witte cha là phương pháp hướng vào tri thức. Còn đối với Witte cha, ông mong muốn giáo dục con đầy đủ về mọi mặt. Việc trí tuệ của Witte con trở nên xuất chúng như vậy là hoàn toàn bất ngờ. Thực tế để thực hiên mong muốn giáo dục toàn diện của mình, ông đã dồn nhiều tâm sức để giáo dục đức độ cho con hơn là tài năng. Bản thân ông lại là mục sư, vì thế Witte con ngay từ nhỏ đã được dạy về lòng mộ đạo, và kết quả là cậu bé thông thạo kinh thánh một cách đáng ngạc nhiên, đặc biệt là lời của Chúa thì Witte thuộc lòng từng chữ. Có không ít những đứa trẻ là con mục sư, nói về kinh thánh thì cái gì cũng biết, nhưng lại quá đỗi nghịch ngợm, khó bảo. Nhưng Witte thì không như thế. Đó là 1 cậu bé sùng đạo tuyệt vời với trái tim nhân ái sâu sắc, theo lời mọi người là “thanh khiết như Thiên sứ”. Từ nhỏ tới lớn cậu không tranh giành với ai, thậm chí còn không cả làm đau hoa cỏ. Cả cuộc đời mình, Witte là tiêu biểu cho một tâm hồn hào hiệp với lòng kính Chúa sâu đậm.
XI.
“Có một lần, vào lúc Karl lên 6 tuổi, tôi dẫn con sang nhà mục sư E ở làng bên và ở lại qua đêm. Hôm sau trong bữa trà, cháu làm đổ một chút sữa. Bình thường ở nhà có quy định là nếu cháu làm đổ thì sẽ bị phạt, sau đó sẽ không được ăn bánh mỳ nữa. Karl rất thích sữa. Mục sư E lại rất quý Karl và sữa ở đó đặc biệt ngon. Ngoài ra còn rất nhiều bánh kẹo hấp dẫn. Khi đó Karl tỏ ra bối rối và hơi đỏ mặt, sau đó thì không ăn uồng gì nữa. Tôi cố tình làm như không nhìn thấy gì. Mục sư E thì không im lặng, ông cố gắng động viên Karl uống sữa, nhưng cháu từ chối và bảo “Cháu đã làm đổ sữa nên không thể tiếp tục”. Dù mục sư E có nói thế nào Karl vẫn không uống thêm. Mục sư E nghĩ rằng do bị tôi lườm nên Karl sợ. Tôi bèn bảo cháu đứng lên và giải thích lý do cho ông. Nghe xong ai nấy đều phản đối: “Một đứa trẻ mới 6 tuổi, làm hỏng có 1 chút mà lại không được ăn những gì mình thích, cách dạy dỗ của ông quá nghiêm khắc rồi!” “Không phải cháu dừng uống là vì sợ tôi, đó thực sự là vì trong thâm tâm cháu đã hình thành quy tắc như thế ”. Mọi người có mặt vẫn không tin. Tôi đành phải bảo “Vậy thì tôi sẽ ra khỏi phòng, ông cứ thử gọi cháu nó lại và bảo cháu uống, tôi chắc cháu sẽ từ chối.”
Sau khi tôi ra khỏi phòng, gia đình mục sư E ra sức bảo Karl uống sữa nhưng vô hiệu. Họ lại cất sữa đi và lấy kẹo ra “Cháu cứ ăn đi, cha cháu không biết đâu”. Karl bèn trả lời “Cha cháu có thể không nhìn thấy nhưng ông trời sẽ nhìn thấy, cháu không thể làm một việc như vậy được.” “Nhưng lát nữa tất cả sẽ đi dạo, cháu không ăn sẽ đói mất!” “Cháu không sao.”
Mọi người lại gọi tôi vào, kể lại mọi chuyện và bảo tôi hãy nói gì đó. Tôi bảo cháu “Karl à, con chịu phạt như thế là đủ rồi. Vì lòng nhiệt tình của mọi người ở đây, và vì lát nữa ta sẽ đi ra ngoài, thế nên con hãy uống sữa và ăn bánh rồi đi.” Khi đó Karl mới bắt đầu ăn, còn cả gia đình mục sư E thì không thể ngờ là một đứa trẻ chỉ mới 6 tuổi mà có thể biết tự chủ như vậy”.
Đọc những dòng này, có thể chúng ta cũng có cảm nghĩ giống như mục sư E, rằng sự dạy dỗ của Witte cha thật khắc nghiệt. Quả thực đúng là nó có khắc nghiệt theo một nghĩa nào đó. Tuy nhiên, thường thì sự dạy dỗ khắt khe thường làm cho trẻ rất khổ sở, nhưng riêng sự khắt khe trong phương pháp của Witte cha thì không như vậy, ngược lại, rất thoải mái tự nguyện. Lấy ví dụ những nhà hoạch định chính quyền ở Tokyo, là nơi đường phố sắp xếp vốn không theo quy tắc, nếu bgiờ mà tiến hành những cải tổ lớn về phố phường, đô thị, thì người dân sẽ rất khổ sở. Nhưng nếu tiến hành làm đường ở giữa cánh đồng rộng, rồi từ đó bắt đầu xây cất nhà cửa, thì phố phường về sau sẽ mạch lạc, khoa học, và người dân cũng sẽ vui vẻ thoải mái. Giáo dục con trẻ cũng như vậy. Nếu được dạy bảo tốt ngay từ khi bắt đầu thì trẻ sẽ không có cảm giác khổ sở. Cũng giống như xây những viên gạch, phải xây có trật tự ngay từ những viên đầu tiên. Bản thân Witte cha đã làm rất tốt điều này.
Nguyên tắc cơ bản trong việc dạy con của ông là cái gì đã nói là không thì nhất định không được làm. Lúc thì cho phép, lúc lại không cho, chính điều đó mới khiến trẻ khổ sở. Như nhà thơ Shira đã nói, cái gì mà ta không bao giờ có thì ta cũng sẽ không cảm thấy thiếu. Witte cha rất tuân thủ nguyên tắc này, và ông áp dụng nó ngay từ khi Witte con được 1 tuổi. Ta thường thấy các ông bố bà mẹ có suy nghĩ, cứ để cho con làm, lớn thêm chút nữa sẽ cấm, nhưng như vậy con càng khổ hơn. Hơn nữa, việc quy định “không được phép”của họ cũng không nhất quán, lúc nói không được phép, lúc lại nói được, điều đó hình thành trong suy nghĩ của trẻ một khái niệm “khi bố mẹ nói không được nghĩa là không được”. Điều khó trong việc dạy dỗ trẻ là chính là sự hình thành khái niệm. Vì thế cái gì là tốt, cái gì là xấu thì những người làm cha mẹ phải nhất quán từ đầu đến cuối không được thay đổi. Và giữa những người lớn phải có sự đồng thuận. Witte cha rất chú ý đến điều này. Ngay cả trong giáo dục tri thức
hay giáo dục nhân cách, ông đều có sự hợp tác của vợ. Cái gọi là “mẹ hiền cha nghiêm” nhất thiết không phải lả biện pháp giáo dục tốt.
XII.
PHƯƠNG PHÁP dạy con của Witte đúng là rất nghiêm khắc, nhưng hoàn toàn không phải chuyên chế. Chuyên chế nói cách khác là sự phục tùng mù quáng. Witte cha rất phản đối sự chuyên chế. Trong cách dạy con cuả ông cũng như trong các vấn đề khác, ông luôn tôn trọng tính hợp lý. Ông cho rằng trong giáo dục thì điều tối quan trọng là không được che lấp lý trí, không làm rối loạn năng lực phán xét của trẻ. Vì thế ngay cả khi mắng con ông cũng không bao giờ để con không hiểu vì sao lại bị mắng.
Người làm cha mẹ mà có quan điểm sai lầm dẫn đến mắng con vô lý là đã điều rất không hay, nhưng cho dù sự trách mắng và ngăn cấm là chính đáng nhưng lại không cho con biết lý do thì lại cũng vẫn là đáng trách. Phần đông các bậc cha mẹ hay lại mắc phải sai lầm này – Đấy chính là sự chuyên chế. Witte cha thì khác, ông luôn cố gắng nhìn vào thực tế để không mắng con một cách không thỏa đáng, và bao giờ ông cũng giải thích để con hiểu vì sao lại không được. Ông cho rằng nếu làm hỏng năng lực tự phán xét của trẻ thì suốt cuộc đời sau này trẻ sẽ không có được cái nhìn khách quan, công bằng trong mọi vấn đề.
Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mà còn cản trở sự tiến bộ của cả xã hội. “Khi con trai tôi nói mà không suy nghĩ, tôi không mắng ngay lập tức. Đầu tiên tôi chỉ bảo: “Con là người ‘nhà quê’ nên mới thốt ra những lời đó, sau này con đừng nghĩ xấu như thế nữa”. Khi đó con sẽ hiểu như vậy là không hay, nhưng sau đó chắc chắn sẽ hỏi lý do, và tôi sẽ bắt đầu giải thích: “Điều con nói đúng là sự thật, cha cũng thừa nhận. Nhưng đó không phải cái có thể nói trước mặt người khác. Con xem chẳng phải vì con nói thế mà ông N đã xấu hổ đến đỏ cả mặt sao? Bình thường ông ấy rất quý con, lại rất nể cha, nên ông ấy đã không nói gì, nhưng sau đó không còn vui vẻ nữa đúng không? Từ lúc ấy ông ấy không nói một câu nào nữa, đó chính là vì con đã thốt ra những lời như thế đấy”. Đây là cách để tôi cố gắng không làm tổn hại đến khả năng đánh giá của con. Nghe những lời này thì con trai tôi cũng hiểu là việc không nên làm, nhưng vẫn thắc mắc: “Nhưng mà, điều con nói là sự thật còn gì?” “Đúng là sự thật, nhưng ông N cũng có cách nghĩ của ông ấy, chúng ta chưa chắc đã biết được. Không chừng ông ấy lại bảo con là trẻ con nên ko hiểu ông ấy cũng nên. Hơn nữa,
cho dù điều con nói là sự thật nhưng ko phải là điều bắt buộc phải nói. Những người khác cũng biết, nhưng họ đâu có nói như con? Nếu con nghĩ chỉ mình con biết thì con đã nhầm rồi! Và thử nghĩ xem nếu như ai đó để ý tìm ra lỗi của con và nói trước mặt người khác thì con có vui không? Thực ra trẻ con thì có rất nhiều lỗi.Nhưng những người khác luôn làm như không thấy lỗi của con. Không phải người ta không biết đâu, họ biết, nhưng họ im lặng, là vì họ không muốn làm con xấu hổ. Như vậy con thấy họ có tốt bụng không? Chính vì thế con cũng nên làm như họ. Chẳng phải Kinh thánh dạy “Muốn người khác làm gì cho mình thì hãy làm điều đó với họ”, hay sao? Dù là sự thật đi nữa nhưng chỉ ra sai lầm của người khác trước mặt mọi người là việc rất không nên làm.”
Hiểu được điều tôi nói rồi, nhưng Karl vẫn băn khoăn: “Vậy con sẽ phải nói dối ạ?” “Không, đó không phải là nói dối. Con không cần phải nói dối. Chỉ im lặng là được rồi. Vì nếu như ai cũng chăm chăm để ý và chỉ trích sai lầm của người khác ở chỗ đông người thì chắc hẳn thể giới này sẽ chỉ toàn là cãi cọ và có thể chúng ta sẽ chẳng thể sống an lành như thế này được.”
Bao giờ cũng thế, tôi luôn giải thích cặn kẽ cho đến khi Karl đã hoàn toàn lý giải được, và sau khi nghe nhưng lời tôi nói, Karl hứa với tôi: “Từ nay về sau con nhất định sẽ không làm như thế nữa”.
Sự hợp lý trong phương pháp giáo dục của Witte cha chính là như vậy – không che lấp lý trí và không làm tổn hại đến năng lực phán xét của trẻ. Witte con cũng qua đó biết thêm được nhiều từ ngữ, hiểu được nguyên nhân, hiểu được những lời giáo huấn cuả cha. Song phần lớn những đứa trẻ khác sẽ không hiểu được căn nguyên dù có được giải thích, vì thế rất khó áp dụng phương pháp giáo dục hợp lý này. Đó là lý do vì sao phải làm phong phú vốn từ cho trẻ ngay từ đầu.
XIII.
So với các bậc cha mẹ khác, Witte rất nghiêm khắc trong việc để con ra ngoài chơi. Theo như lời ông, nếu để con ra ngoài chơi sẽ không thể chọn được bạn, bất cứ đứa trẻ nào cũng chơi cùng, và sẽ nhiễm phải những thói xấu. Ví dụ như học đòi làm chuyện người lớn, đánh bạc bên lề đường, cãi lộn… Trẻ con hầu như chưa biết suy nghĩ, chúng lấy cát đá ném
nhau, rồi bị thương, có khi còn hỏng cả mắt. Nói chung là khá nguy hiểm. Khi gặp những đứa trẻ bị hỏng mắt, vỡ mũi, gãy tay, què chân, ông luôn hỏi kỹ nguyên nhân, và biết rằng hầu hết là xảy ra trong lúc chơi. Vì lý do đó, ông nhất quyết không cho con ra ngoài chơi, không chỉ có vậy, ông hầu như ko để con chơi cùng những đứa trẻ khác. Ông nói về điều này như sau: “Nhiều người nói rằng trẻ con không thể không có bạn chơi vì như thế sẽ không vui và còn có thể khiến trẻ trở nên tiêu cực, khó bảo. Tôi thử bàn với vợ và chúng tôi quyết định chọn cho con 2 cô bạn. Hai cô bé này được dạy bảo tốt nhất vùng, lại biết hát và biết nhảy, con trai tôi đã cùng chơi rất vui vẻ. Nhưng đúng như tôi đã lo lắng. Từ sau khi chơi với 2 cô bé đó, con trai tôi trở nên bướng bỉnh và bắt đầu nói dối, thậm chí lại dùng những từ ngữ hạ đẳng, tính tình thì trở nên ích kỷ. Đó là vì hai cô bạn không hề phản đối con tôi bất kỳ việc gì. Tôi đã dặn chúng đừng nghe theo tất cả mọi lời nói của con tôi, và khi cháu tỏ ra ích kỷ thì hãy nói với tôi, nhưng không có kết quả. Từ đó, tôi bỏ ý định cho con chơi với những đứa trẻ khác.
Tôi đã nghĩ rằng trẻ con nếu không có bạn chơi thì sẽ không vui, nhưng điều đó là không đúng. Đương nhiên trẻ con mà chơi với trẻ con thì có thể thích nói gì thì nói, thích làm gì thì làm, được hoàn toàn theo ý mình, rõ ràng là rất thoải mái. Mọi người cho đó là vui? Nhưng nếu vui là như thế thì thà không có còn hơn. Nếu chúng ta có thể cũng mang trái tim & tâm hồn trẻ thơ để cùng chơi với chúng thì trẻ sẽ vẫn vui mà lại có thể chơi 1 cách có ích, không bị tác động bởi những thói quen xấu. Nếu chỉ toàn trẻ con chơi với nhau, đứa trẻ ngoan cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi cải xấu, đứa trẻ hư thì càng bị ảnh hưởng xấu nhiều hơn. Việc trẻ ngoan có những thói quen tốt sẽ tác động lên trẻ hư là điều không thể có, vì thói xấu mới là thứ dễ lây lan nhanh chóng. Đơn giản vì đức tính tốt là thứ cần phải nỗ lưc rèn luyện và phải biết tự chủ cao độ mới có được, còn học cái xấu thì chẳng cần phải mất chút công sức nào. Vì thế, trường học theo cách nghĩ này sẽ là nơi thói hư tật xấu có thể dễ dàng tấn công trẻ, và những nguy hại mà trường học có thể mang đến là không nhỏ. Và như vậy nếu việc học có khả năng được đảm bảo ngay tại nhà thì trẻ chẳng cần phải đến trường. Tuy nhiên, hầu hết các gia đình đều không thể tự dạy dỗ con mà phải đưa đến trường, thế nên trường học phải đặc biệt chú ý đến điểm này và tiến hành giám sát trẻ chặt chẽ trong cả thời gian chơi. Tóm lại, nói rằng trẻ không có bạn chơi sẽ trở nên ích kỷ, khó bảo, là hoàn toàn không phải sự thật.
Ngược lại, để cho trẻ con chơi riêng với nhau không có người lớn sẽ phát huy chủ nghĩa vị kỷ, dối trá, lừa lọc, cứng đầu, ganh ghét, tị nạnh, nói xấu, cãi cọ, vu khống,… Nhưng nói
như vậy không có nghĩa là tuyệt đối không cho con chơi với những đứa trẻ khác mới là tốt. Đôi khi vẫn nên cho trẻ gặp gỡ, giao lưu, tiếp xúc với nhau dưới sự giám sát của bố mẹ, như thế trẻ sẽ tránh được những ảnh hưởng xấu. Con trai tôi được hạn chế theo cách đó, và kết quả rất tốt. Karl không bị nhiễm những thói hư tật xấu, vì thế không bao giờ cãi nhau đánh nhau với những trẻ khác, nếu thấy bạn có hành vi xấu thường tránh xa. Vì thế mọi đứa trẻ khi tiếp xúc với Karl đểu rất quý mến, khi tôi cho cháu đi chơi ở đâu thì lúc về những đứa trẻ khác cũng đều khóc và muốn giữ lại. Ở nhà Karl không có cơ hội để tranh chấp với ai, vì thế không dễ bị kích động như những đứa trẻ khác. Và đứa trẻ dù có xấu đi nữa cũng không có lý do gì để tức giận với Karl. Cho đến tận năm 18 tuổi, tôi vẫn không hề thấy Karl cãi lộn. Trong thời gian học đại học cũng có xảy ra tranh luận về học tập, nhưng Karl không hề làm người khác mất cảm tình. So với hầu hết các bạn học thì Karl ít tuổi hơn, nên tôi cũng khá lo lắng. Nhưng vì Karl đối với mọi người rất chân thành, nên tự nhiên có rất nhiều bạn bè thân thiết, khiến tôi cũng phải cảm động.
Như vậy, theo kinh nghiệm của tôi, trẻ ko có bạn chơi sẽ không vui, dẫn đến hay cáu kỉnh, khó bảo,… là nhận định sai lầm. Và vì thấy trẻ có hứng thú chơi với trẻ con mà quan niệm rằng phải để cho trẻ được làm như vậy, với tôi đó là một thành kiến, có điều nó chưa dễ thay đổi”.
XIV.
Witte cha đã mất rất nhiều công sức để hướng thiện cho con. Ngay từ lúc thơ ấu ông đã kể cho con nghe những câu chuyện về cái thiện, đặc biệt là những truyện trong kinh thánh. Và khi Witte con làm được điều tốt, ông đều khen ngợi, nhưng cũng luôn chú ý để việc khen ngợi không quá đà khiến con sinh ra kiêu ngạo. Khi Witte con lớn hơn một chút, ông cho con đọc thơ về đạo đức. Ở Đức có rất nhiều thơ ca ca ngợi tình bạn, tình yêu, lòng dũng cảm, đức hi sinh…, Witte con đều thuộc hết. Ngoài ra, ông còn có một cuốn sách ghi lại những việc tốt của Witte con để giữ làm kỷ niệm. Với cách khen ngợi này, ngay từ nhỏ Witte con đã rất biết tự mình nỗ lực làm những điều tốt đẹp.
Nhưng, điều mà Witte cha đã cố gắng nhất chính là làm sao để con có thể cảm thấy niềm vui khi làm việc thiện, niềm vui trong việc nghiêm khắc với bản thân mình. Không phải
chỉ nói thôi, làm sao để con có thể thấy được những điều này mới là khó, tuy nhiên không phải là không thể. “Chỉ cần ta dốc sức để làm việc thiện, ông Trời sẽ biết” –
Witte cha đã cố gắng để con thấm nhuần ý nghĩ đó. Và, ông cũng nói về những kẻ làm điều xấu với sự phê phán rất nghiêm khắc, đây cũng là cách để khuyến khích con hướng thiện.
Tuy nhiên, phương pháp khuyến khích con làm điều thiện có đôi chút khác với việc khuyến khích con học. Nếu nói gọn trong một câu thì phương châm của Witte cha sẽ là “Học tập sẽ giúp ta trở nên giàu có, còn làm điều thiện ta sẽ được trời ban thưởng”. Nếu một ngày học tập chăm chỉ sẽ được 1 pê-ni, nhưng nếu làm sai điều gì sẽ mất đi 1 pê-ni đó.
Ông viết về điều này như sau: “Thi thoảng con trai tôi có nói với tôi “Hôm nay con đã làm sai mất rồi, chắc là con sẽ không được nhận tiền nữa”. Nghe điều này tôi rất vui, muốn thưởng cho con gấp đôi, nhưng tôi vẫn nói: “Thế ah, cha không biết đấy. Vậy ngày mai con nhớ làm điều tốt để bù lại nhé!”. Dùng tiền để khích lệ con học có thể khiến người ta thấy là không hay, nhưng đấy chính là ý nghĩa của việc “học tập mang lại sự giàu có”. Witte cha viết “Đúng là hơi buồn cười, nhưng tôi trả 1 pê-ni cho 1 ngày học tập của con, để con tôi hiểu được phải vất vả thể nào mới có thể được trả công. Như thế con cũng học được cách sử dụng đồng tiền cho có ý nghĩa. Nếu mua kẹo thì sẽ hết ngay mà chẳng được gì, nếu mua sách, mua đồ dụng học tập sẽ còn mãi. Hơn nữa, vào ngày Giáng sinh, có thể mua quà cho bạn bè và cho những gia đình nghèo, điều đó sẽ giúp con thấy ý nghĩa hơn rất nhiều.”
Khi trong vùng xảy ra thiên tai, Witte cha bao giờ cũng đến thăm những gia đình không may, và Witte con cũng dùng tiền của mình để hỗ trợ. Ông sẽ khen con “Con làm rất tốt. Số tiền của con tuy nhỏ nhưng với nó chính là Lepta của người quả phụ nghèo khổ đó.” “Lepta của người quả phụ nghèo khổ” là câu trích dẫn trong kinh thánh. Witte cha rất hay dùng những lời dạy trong kinh thánh, những điển tích điển cố, những lời của thi ca, để khích lệ con làm việc thiện.
Để khích lệ con học, Witte cha còn làm thế này: Khi con đọc được hết một quyển sách cổ, thuật lại được, đó sẽ là một việc cực kỳ trọng đại, lúc đó ông sẽ dùng tên của những người nổi tiếng để gọi con. Và người mẹ bước vào, chúc mừng và tặng quà cho con. Sau đó sẽ vào thành phố mua rất nhiều thứ con thích để mở tiệc, mời một vài người bạn thân đến ăn cùng. Rồi ông nói trước bữa ăn “Hôm nay Karl đã đọc hiểu một cuốn sách rất khó, chứng tỏ học lực
của cháu đã có nhiều tiến bộ.” Mọi người đều chúc mừng và hỏi Witte con về cuốn sách, Witte con sẽ nói sơ lược về những gì đã đọc, sau cùng sẽ cảm tạ ông trời “đã ban cho sức khỏe và nhiều ân huệ để có thể có được học vấn như ngày nay”.
XV.
Ta thấy rằng Witte cha thưởng tiền cho con khi con học tốt, còn khi làm việc thiện thì ghi chép vào 1 cuốn sách và khen ngợi con nhiều hơn so với lúc học. Nhìn chung ông rất hiếm khi khen ngợi con, vì theo ông nếu lạm dụng lời khen sẽ không có hiệu quả. Vì thế khi con học tốt, ông chỉ nói: “A, con làm tốt đấy!”. Nhưng khi Witte con làm được việc thiện, ông sẽ ca ngợi “Chà, con làm tốt quá. Chắc rằng ông Trời sẽ vui mừng lắm đây!” Nếu là việc đặc biệt tốt, ông sẽ ôm hôn con, nhưng việc đó đặc biệt hiếm, và đối với Witte con đó là thứ hết sức giá trị. Bằng cách đó ông làm cho Witte con cảm nhận được niềm vui khi làm việc thiện. Quan điểm của ông là nếu khen thái quá sẽ khiến con sinh ra kiêu ngạo, mà nếu còn nhỏ đã tự phụ thì khi lớn lên sẽ không khá được. Việc ông dạy cho con rất nhiều thứ,nhưng ông không bao giờ nói rằng đây là Hóa học, đây là Vật lý, cũng là để tránh cho con sinh ra kiêu ngạo, hơm hĩnh. Gần đây trên Nhật báo Asahi Tokyo có viết bài “Thần đồng nước Mỹ đã đến” với nội dung: “Thần đồng được đánh giá cao nhất từ trước đến nay của nước Mỹ – Pretoris Luis Wiramood (8 tuổi) cùng cha mẹ sẽ cập cảng Yokohama vào sáng ngày 12 tháng 9. Cô bé này đã vào học trường Trung học nữ sinh khi mới 7 tuổi và hiện đang học năm thứ 2. Mục đích của chuyến đi lần này là để các nước trên thế giới biết đến như là một thần đồng, dự định sẽ tới Nhật Bản, Trung Quốc, Đức và các nước Âu Mỹ khác”.
Đọc những dòng trên, tôi thấy cha mẹ của cô bé này thật khác xa với cha của Witte. Đấy chẳng phải chính là sự hủy hoại thần đồng hay sao? Trên đời này không có gì đáng sợ hơn là tính tự phụ. Dù là nhân tài hay thiên tài thì cũng sẽ bị hủy hoại. Tôi đọc cuốn “Giáo dục Karl Witte, cũng đọc cả cuốn “Những nhà giáo dục tốt nhất của thế giới tương lai”, nhận thấy Witte cha quả là đã rất lao tâm khổ tứ để tránh cho con khỏi sinh ra tính tự phụ. Ông không chỉ hạn chế khen ngợi con, mà còn tránh cả việc để người khác khen ngợi. Khi người ngoài khen Witte, ông sẽ đưa con ra khỏi phòng để khỏi phải nghe. Và một khi đã đề nghị mà vẫn không được, ông sẽ đoạn tuyệt không đến nhà đó nữa. Ông làm việc này quyết liệt đến mức nhiều khi người khác không hiểu và có những lời bình phẩm không hay. Khi Witte con lớn hơn một chút, ông dạy: “Tri thức thì có thể nhận sự khen ngợi của người
khác, còn làm việc thiện sẽ được Trời ban thưởng. Những kẻ vô học trên thế gian này rất nhiều, và những kẻ đó, vì bản thân mình không có tri thức nên hễ thấy người có tri thức thì ra sức tán tụng vô lối. Nhưng, lời tán thưởng của nhân gian nói chung rất dễ thay đổi, dễ có được mà cũng dễ mất. Còn phần thưởng của ông Trời có được là do việc thiện tích tụ lại mà nên, vì thế sẽ rất khó để đạt được, nhưng sẽ là thứ vĩnh viễn không thay đổi. Bởi vậy không nên mê muội với những lời tán tụng của nhân gian. Người nào mà vui mừng với những lời tán tụng thì cũng sẽ buồn phiền vì những lời cay độc, và chỉ có kẻ ngốc mới phải bận tâm về miệng lưỡi người đời. Con người ta, dù có học rộng đến đâu, so với ông Trời thì chỉ là muối bỏ bể, và người nào mà bằng lòng với hạt muối tri thức của mình thì sẽ thật đáng thương.” Nói những điều này, ông mong muốn Witte con sẽ không mắc phải thói tự phụ. Đây thực sự là một điều khó khăn, nhưng ông đã thành công tốt đẹp.
Mill bắt đầu học tiếng Latin từ 8 tuổi, đến năm 12 tuổi Mill đã đọc hầu hết các tác phẩm nổi tiếng của Hy Lạp và La Mã. Cũng từ thời kỳ này ông bắt đầu học đại số và hình học để học được hai môn này ông bắt đầu học vi phân, tích phân của tóan học cao cấp. Mill đọc rất nhiều sách bằng tiếng mẹ đẻ. Khỏang 13 tuổi Mill bắt đầu đọc sách khoa học, tuy nhiên những môn khoa học mà Mill đã học chỉ là sự nghiên cứu lý thuyết. Mill học hầu hết từ sách. Mặc dù vậy, bất kỳ ai cũng phải sửng sốt với số lượng sách khổng lồ mà Mill đã đọc trong thời niên thiếu.
Cuộc sống của Mill cứ duy trì như vậy cho đến khi ông được 14 tuổi. Theo lời kể của Mill thì Cha Mill đã ngừng sự dạy dỗ của mình khi Mill được 14 tuổi. Bởi vì năm 14 tuổi Mill rời nước Anh đến Pháp trong khoảng 1 năm. Khi quay trở về Anh, Mill bắt đầu tự học, khỏang năm thứ 3, thứ 4 cấp trung học cơ sở Mill có thể tự học mà không cần đến sự hướng dẫn của bất kỳ thầy giáo nào. Mill đã viết về điều đó như sau “Từ thời niên thiếu tôi đã được học những tri thức đỉnh cao. Có thể mọi người nghĩ rằng cha tôi đã rất lao tâm khổ tứ trong việc dạy dỗ tôi nhưng thực tế hòan tòan không phải vậy. Tôi đã tiếp thu những tri thức đó một cách hết sức đơn giản. Dựa vào điều này chúng ta có thể thấy rằng, những đứa trẻ có thể tiếp thu một lượng kiến thức đáng kinh ngạc trong thời thơ ấu của mình. Do đó tôi cho rằng chúng ta chỉ dạy một chút tiếng Latinh và Hy Lạp cho bọn trẻ ở các trường học như hiện nay là sự lãng phí rất lớn về thời gian. Nếu tôi có năng lực tiếp thu và ghi nhớ của một thiên tài thì những gì tôi vừa nói sẽ không đúng. Nhưng tôi lại là người có khả năng tiếp thu chậm hơn bình thường. Tôi khẳng định, những đứa trẻ có sức khỏe và năng lực tiếp thu bình thường hòan tòan có thể học được những gì tôi đã học. Nếu tôi có được một
thành công nào đó thì đều nhờ vào sự giáo dục từ sớm của cha tôi. Sự giáo dục từ sớm của cha tôi, giúp tôi trưởng thành nhờ có được lượng kiến thức nhiều hơn người khác đến 25 năm.
Sự giáo dục từ sớm của cha tôi có những ưu điểm hết sức quan trọng. Những ưu điểm đó mang lại cho tôi rất nhiều lợi ích. Đa phần những thanh thiếu niên chỉ ghi nhớ kiến thức vì vậy họ không thể phát triển tư duy của mình được một chút nào.
Hơn nữa, họ cũng chỉ thụ động nhớ ý kiến của người khác nên đã tự mình làm thui chột đi khả năng đưa ra ý tưởng. Rất nhiều đứa trẻ, con của những người cha ưu tú, thường là bản sao của cha mình tự họ không phát triển hơn được. Nguyên nhân là do người cha khi dạy con đã trao cho con mình những suy nghĩ tinh túy nhất của bản thân. Tuy nhiên, tôi đã được giáo dục không theo kiểu như vậy, Cha tôi không theo chủ nghĩa nhồi nhét kiến thức. Ông dạy tôi sao cho tôi có thể tư duy như ông, hoặc tự bản thân tôi phải có những tư duy vượt trội cha mình. Cha tôi cho rằng hễ suy nghĩ thì sẽ hiểu được, Ông thường bảo “Tự suy nghĩ xem sao” và quyết không dạy khi tôi chưa đưa ra được suy nghĩ của chính mình. Tuy nhiên tôi lại là người không thành công ở điểm này, những lúc như vậy cha tôi đưa ra rất nhiều câu hỏi gợi ý, sau cùng mới bắt đầu giải thích. Dù vậy cách dạy của cha vẫn có chỗ khó khăn đối với tôi.
Ví dụ lúc 13 tuổi, khi tôi dùng từ Quan niệm, cha đã hỏi quan niệm là gì, tôi giải thích theo suy nghĩ của mình nhưng như thế này cũng không phải như thế kia cũng sai và cha tôi đã rất bực mình về điều này. Hoặc thỉnh thoảng khi ngẫu nhiên tôi nói “Về mặt lý luận thì chính xác nhưng thực tiễn cần chỉnh sửa ít nhiều” Cha liền hỏi lý luận là gì? Giải thích đi! Tôi đã giải thích rất nhiều bằng suy nghĩ của mình, nhưng đối với đứa trẻ 13 tuổi thì đây chẳng phải là điều dễ dàng. Lúc đó cha tôi cũng cực kỳ bực mình. Cuối cùng cha cũng giải thích cho tôi ý nghĩa của từ lý luận như sau “Thật ra lý luận và thực tiễn không phải là hai vấn đề tương phản. Vì vậy khi nghĩ nó như là sự tương phản thì chẳng hiểu gì về ý nghĩa của từ lý luận cả. Cũng có những người dùng từ lý luận nhưng không hiểu nghĩa của nó, những người như vậy là người vô học.” Nhưng tôi nghĩ điều này thật vô lý. Đây là những điều mà đứa trẻ 13 tuổi không dễ gì hiểu được. Tuy nhiên, tôi cũng nghĩ nếu đứa trẻ không được yêu cầu những điều ngoài khả năng của nó thì chúng không thể phát huy hết năng lực của mình.”
XVI.
Phần này kể chuyện về việc người ngoài đến thử Witte con, nói chung là không quan trọng.
XVII.
PHƯƠNG PHÁP giáo dục của Witte cha, như ông đã nói, là để tạo ra một con người tài đức vẹn toàn, đồng thời sức khỏe cũng phải tối ưu. Vì thế, giáo dục tri thức, nhân cách, thể chất, đều được coi trọng. Tuy nhiên, trong sách của ông không có ghi chép về việc giáo dục thể chất nên mọi người cũng không biết chính xác. Chỉ thấy hình như 2 cha con có cùng nhau đi bộ quanh làng, leo núi và đi bộ ra cả thành phố. Không thấy đề cập đến bơi lội, tennis hay cưỡi ngựa. Nhưng rõ ràng Witte cha rất chú ý đến vấn đề sức khỏe, và Witte con là một cậu bé khỏe mạnh, nhanh nhẹn, đến cuối đời vẫn duy trì một thể lực tốt.
Witte cha còn cho rằng, tri thức, nhân cách, thể lực , thì chỉ dạy thôi vẫn chưa đủ, mà còn phải truyền thụ được cảm hứng vào trong đó, làm sao để tạo cho việc dạy và học trở nên thú vị. Để làm điều này, ông đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng, bắt đầu từ ngôi nhà. Trong nhà ông không có cái gì là không thú vị. Ông cũng rất coi trọng sự hòa hợp của ngôi nhà. Giấy dán tường phải là loại giấy khiến người ta cảm thấy dễ chịu, trên đó treo những bức tranh vui chơi giải trí. Đồ vật trong nhà cũng thế, không có cái nào là không có hoa văn trang nhã, và nếu là thứ được tặng nhưng không hòa hợp với các đồ vật khác trong nhà thì ông nhất định không dùng. Trang phục cũng vậy. Ông đặc biệt tẩy chay những thứ lòe loẹt, hoa hòe hoa sói, chỉ dùng những thứ giản dị mà vẫn quý phái.Tiếp đến là những thứ xung quanh nhà. Ông trồng nhiều loại hoa tao nhã, để sao cho từ đầu mùa xuân đến cuối mùa thu luôn có hoa nở, và ở đây mọi thứ cũng phải hòa hợp nhịp nhàng.
Đặc biệt, nhờ sự bồi dưỡng cảm hứng văn học của cha, Witte con có khả năng cảm thụ thơ ca sâu sắc, bản thân cũng biết làm thơ từ sớm. Nhìn vào cuộc đời Witte con, học vị đầu tiên là tiến sĩ Toán học, sau trở thành một giảng viên luật học, ngoài ra lại có những nghiên cứu rất giá trị về Dante,.., ta có thể thấy rằng đây là một người rất đa tài, rất toàn diện. Witte cha cũng chú ý cả đến việc giáo dục nhân tính cho con. Có lần, khi Witte con 3 tuổi, trong nhà hôm đó lại có nhiều khách đến chơi. Trong lúc Witte đang nói chuyện với họ thì có một con chó chạy đến, cậu bèn túm lấy đuôi nó và ra sức kéo về phía mình. Ngay lập tức, Witte cha túm lấy tóc của con giật mạnh, với một bộ mặt rất dễ sợ. Witte con rất ngạc nhiên, và buông tay ra, Witte cha cũng buông tay. Ông nói “Karl, con cũng muốn bị làm như thế à?”
“Không ạ” , “Thế thì, con chó đó cũng không phải để làm những việc như vậy!”. Nói rồi, ông đuổi con ra khỏi phòng. Đó vừa là một hình phạt, vừa là cách để tránh cho những người khác có thể nói thêm về hành vi của Witte con, vì chắc chắn họ sẽ nghĩ rằng hành động này là phi giáo dục. Với cách giáo dục của này, Witte cha muốn con biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để suy nghĩ và hiểu họ, lớn lên sẽ trở thành người nhân ái, có tình thương sâu sắc. Trên thực tế, Witte con quả thực là người rất nhân hậu, biết cảm thông, biết yêu thương không chỉ con người mà ngay cả chim muông, cây cỏ.
XVIII.
Nhờ những nỗ lực của cha và sự phấn đấu của bản thân, đến khi 7 tuổi rưỡi Witte con đã có những tiến bộ vượt bậc trong học tập, xa gần đều biết. Nhiều người tìm đến để thử sức và ai nấy đều phải trầm trồ thán phục, tiếng tăm của cậu bé ngày càng lan rộng. Năm 1808, một vị giảng viên ở Melzeblehi tên là Rant Fort, với mong muốn khích lệ học sinh của mình, đã tìm đến và đề nghị được thử tài của Witte con trước mặt các học sinh.
Ban đầu, Witte cha từ chối vì sợ rằng điều đó có thể khiến con trở nên kiêu ngạo, nhưng sau khi suy nghĩ lại ông đã đồng ý với điều kiện tất cả những người có mặt đều không được thốt ra một lời khen ngợi nào. Giảng viên Rant Fort mời hai cha con Witte đến trường học, vừa lúc vào giờ dạy tiếng Hi Lạp, là môn học tương đối khó. Rant Fort đề nghị Witte con làm thử mấy câu khó, ngay lập tức cậu bé làm hết dễ dàng, ngoài ra còn trả lời trôi chảy những câu khác. Các môn tiếng Latinh, tiếng Pháp, lịch sử Hi Lạp, Toán học,…, tất thảy Witte con đều làm rất tốt, khiến tất cả đều ngạc nhiên và thán phục. Năm đó cậu bé mới 7 tuổi 9 tháng. Mấy ngày sau trên báo đăng một bài về Witte con với nội dung như sau: “Đã có một sự kiện gây chấn động ngành giáo dục đương thời bởi một cậu bé rất nhanh nhẹn hoạt bát, không hề có dấu hiệu già trước tuổi, đặc biệt lại không hề kiêu căng tự phụ, thậm chí hoàn toàn không ý thức về tài năng của mình. Cậu bé đó là Karl Witte, con trai duy nhất của mục sư Witte vùng Rohyo.
Phương pháp giáo dục được áp dụng cho cậu bé đã đạt được sự lý tưởng cả về tinh thần và thể chất, và chắc hẳn là rất lý thú, song đáng tiếc lại không được cha cậu kể lại tỉ mỉ.” Bài báo ra đời ngay lập tức được truyền tới độc giả, và tên của Witte trở nên nổi tiếng khắp cả nước. Lại thêm nhiều người từ nhiều nơi tìm đến thử tài Witte, và không ai là không thán
phục, trong đó có một vị giáo sư của trường Đại học Raipusichi, ông tha thiết đề nghị Witte cha cho con đến đó học. Ông viết: “ Karl Witte, con trai Tiến sỹ – Mục sư Witte, mới chưa đầy 9 tuổi, nhưng đã có kiến thức không thua kém những thanh niên 18, 19 tuổi hiện này. Đó chính là thành quả chính đáng của việc giáo dục từ sớm mà cha cậu đã áp dụng. Cậu bé có thể dịch thơ văn tiếng Pháp, Italia, La tinh, Anh và Hi Lạp rất có hồn. Các học giả đều phục tài cậu. Trước mặt Quốc vương, cậu cũng đã thể hiện một kiến thức khổng lồ về Lịch sử, Địa lý, Văn học từ cổ điển đến hiện đại. Điều ngạc nhiê ơn là sức khỏe của cậu bé hoàn toàn khác với các Thần đồng, cậu đặc biệt nhanh nhẹn, hoạt bát. Cũng không như nhiều Thần đồng, cậu hoàn toàn không có tính tự phụ. Đây thật là một cậu bé kỳ lạ. Nếu sau này được tiếp tục giáo dục tốt, chắc hẳn kết quả sẽ không thể nói hết được.
Nhưng cha cậu chỉ là một người dân quê với thu nhập thấp, vì thế việc học của cậu sau này sẽ tương đối khó khăn. Cho đến nay, cha cậu là người dạy dỗ cậu, nhưng sau này sự giáo dục đó sẽ không theo kịp nữa. Nguyện vọng của cha cậu là chuyển cả gia đình lên thành phố trong thời gian khoảng 3 năm học đại học, nhưng với tình trạng kinh tế hiện giờ thì không thể thực hiện được. Vì vậy tôi viết bài báo này để mong độc giả quan tâm giúp đỡ. Nếu có 4 mác mỗi năm, cậu bé tài năng này có thể tới Raipusichi để theo học một trường Đại học xứng đáng. Đây thực sự là một nghĩa cử cao đẹp, và tôi tin nó sẽ không vô nghĩa. Sau này, Tiến sĩ Witte có thể sẽ truyền đạt lại những gì mình có được cho những trẻ khác, và sự nghiệp giáo dục của chúng ta sẽ được cải thiện. Tôi hi vọng độc giả sẽ ủng hộ.”
Hiệu quả của bài báo rất lớn, không những một năm được 4 mác, mà hai cha con được hứa tài trợ 8 mác. Không những thế, họ còn được chu cấp một khoản tiền đủ dùng cho 2 người và có thể khởi hành ngay., Để được sự cho phép của Quốc vương, hai cha con tới Karcel. Đúng như đã lo lắng, Quốc vương không phải là vua Prosia mà là vua West Falia, Jemom (con trai thứ 2 của Napoleon). Năm 1807, dưới thời Napoleon, phía Tây sông Elbe là phần của vua West Falia, vì thế vùng Rohyo và Hale thuộc quyền quản lý của vị vua này. Chính trị là sự pha trộn giữa người Pháp và người Đức. Khi 2 cha con tới Karcel thì Quốc vương đi du lịch, họ đã gặp một vị quan là Raist, người này cũng thử tài Witte con và rất ngạc nhiên. Sau khoảng 3 giờ thi cử, ông thấy rằng việc để 1 nhân tài như thế đi ra nước ngoài là điều rất đáng tiếc, vì vùng Raipusichi là địa phận của Sacsonia. Ông cũng hỏi Witte cha rất nhiều về phương pháp giáo dục, và sau cùng đề nghị 2 cha con sẽ không đi Raipusichi mà dừng lại ở trong nước.
Hôm sau 2 cha con được mời dự tiệc buổi tối với các quần thần và mọi người đều hài lòng với Witte. Quốc vương cũng không muốn 2 cha con không đi Raipusichi mà ở lại học tại Đại học Hale hoặc Gechingen. Nhưng Witte cha, vì muốn đáp lại tấm lòng của người dân Raipusichi nên đã từ chối. Không được phép của Quốc vương, họ phải tạm thời dừng lại ở Rohyo để đợi. Ngày 29 tháng 7 năm đó, trong triều đưa tới một bức thư trong đó đưa ra quyết định sẽ tài trợ cho Witte con mỗi năm 6 mác để theo học trường ĐH Gechigen.
XIX.
Vì lý do đã nói ở trên, mùa thu năm đó Witte con bắt đầu nhập học trường ĐH Gechigen và học tại đây 4 năm. Trong thời gian này cậu đã học được rất nhiều. Học kỳ 1 là về Vật lý học và lịch sử cổ đại, học kỳ 2 là Số học và thực vật học, kỳ 3 là Toán học ứng dụng và Lịch sử tự nhiên, kỳ 4 là Hóa học và Giải tích, kỳ 5 là Lượng giác và Hóa học thực nghiệm, kỳ 6,7,8… Trong thời gian đầu đi học, Witte cha cũng đi cùng để chăm sóc, vì lúc đó cậu vẫn còn khá nhỏ.
Cuộc sống của Witte ở trường ĐH khá dư thừa thời gian. Một cậu bé tầm 10 tuổi cùng với những thanh niên 20 tuổi, tưởng rằng sẽ hụt hơi, thực tế lại rất thư thả. Cậu vẫn có thời gian vận động, vui chơi. Witte thường hay ra ngoài sưu tập động thực vật, vẽ tranh, chơi piano và cả dancing. Ngoài những bài giảng, cậu vẫn không quên nghiên cứu về ngôn ngữ học cổ điển và hiện đại. Mùa xuân năm 1811, khi gần hết học kỳ 2, Witte cha kể lại: “Vào kỳ nghỉ lễ Phục sinh, tôi đưa con đi Du lịch. Điều này khiến mọi người rấ ngạc nhiên. Họ đã nghĩ tôi sẽ nhân cơ hội này để giúp con ôn tập miệt mài trong thư viện. Thực tế là có một người bạn đã khuyên tôi như vậy, nhưng tôi bảo: Nếu muốn con tôi thành con rối thì tôi sẽ làm như vậy. Nhưng mục đích của tôi không phải là biến con thành con rối. Hơn nữa sức khỏe và tầm nhìn của con tôi quan trọng hơn học vấn. Thời gian cho việc học như thế là đủ rồi.”
Witte cha rất chú ý đến sức khỏe của con. Vào những ngày thời tiết khô ráo, ông rất khuyến khích con ra ngoài vận động, vào ngày mưa nhỏ hoặc có tuyết, 2 cha con chỉ đi dạo. Trời lạnh thì hiếm khi thấy họ trên đường.
Mùa hè năm thứ 2, tức là khi học kỳ 2 kết thúc, Quốc vương Jemom tới thăm trường ĐH Gechigen. Quốc vương đi dạo quanh trường, tình cờ dừng lại ở bách thảo. Lúc này Witte con đang học Thực vật học cùng với các học sinh khác. Thấy Witte ông vui vẻ gọi lại nói chuyện, động viên 2 cha con cố gắng, ông sẽ trợ giúp bất kể đến khi nào. Mùa xuân năm 1812, sang kỳ học thứ 5, ở tuổi 12, Witte con viết luận văn về các đường xoáy ốc và được nhiều lời khen ngợi. Trong luận văn này, cậu đã đưa ra những phát biểu của mình về việc dùng những đạo cụ có rãnh rất tiện lợi.
Học kỳ thứ 7 là thời kỳ chính trị đảo lộn, Witte có viết một cuốn sách về tam giác thuật, nhưng không xuất bản ngay mà phải đến năm 1815, khi cậu đã rời trường Gechigen tới ĐH Haidelbelh, mới được xuất bản. Trong năm 1813, Witte cha nhận được lời hứa tài trợ cho việc học của con từ phía Quốc vương thêm 4 năm nữa. Nhưng từ khi viễn chinh nước Nga thất bại, thế lực Napoleon suy yếu, cùng với việc bại trận tại Raipusichi tháng 10 năm đó, Quốc vương West Falia qua đời. Chính phủ West Falia tách làm 3: Hanowear, Branswick, Hessen với 3 lời đề nghị cho Witte. Chính phủ West Falia vốn một nửa là người Đức, vì quá sa đà vào chiến tranh nên nơi nào cũng thiếu tiền, hoàn toàn không phải lúc mà người ta có thể dễ dàng mở hầu bao. Thế nhưng, học phí của Witte lại được cả 3 chính phủ đề nghị chi trả, như vậy có thể thấy rằng tài học của cậu đã được thừa nhận. Kỳ thứ 8 tại trường ĐH Gechigen, 3 chính phủ này đã cùng chi trả.
Tháng 4 năm sau đó, Witte đi Du lịch Wettlar, tới thăm trường ĐH Gisen và rất được hoan nghênh. Các giáo sư trong trường nói chuyện rất nhiều với cậu về vđề học tập (đặc biệt là về giá trị của luận văn đã công bố). Hiệu trưởng của trường đã trao cho cậu học vị Tiến sĩ triết học. Sau đó cậu tới ĐH Marbelh và cũng được chào đón nhiệt tình, chắc hẳn nếu trước đó cậu chưa ghé qua ĐH Gisen thì cũng sẽ được tặng bằng khen ở đây. Như đã nói, học phí của Witte kỳ thứ 8 tại ĐH Gechigen được 3 chính phủ chi trả. Khi hai cha con đi tới Branswick để nhận, họ đã gặp nhà cầm quyền ở đó, và sau khi tiếp xúc, người này nhiệt tình khuyên cha con Witte tới Anh quốc. Ông hứa sẽ sẵn sàng tiến cử họ với người thân của mình , đồng thời sẽ chi trả toàn bộ học phí.
Cũng với lý do trên, cha con Witte tới Hanowear, ở đây, Witte, 14 tuổi, được mời đứng ra thuyết trình tại giảng đường của một trường Trung học lớn về đề tài Số học và đã rất thành công. Sau buổi hôm đó, chính phủ quyết định trả nhiều hơn số tiền học phí đã hứa, đồng thời cũng đưa ra đề nghị du học Anh.
Kết thúc học kỳ 8, Witte cha đã suy nghĩ rất nhiều về tương lai của con. Nếu muốn nhanh chóng trở nên nổi tiếng, thì tốt nhất là nên dừng lại để tập trung vào 1 trong số các phương diện đã học. Nhưng như vậy thì sẽ lại trở thành học giả, tức là chỉ được 1 phía. Nghĩ đến những thứ Witte con phải học vẫn còn rất nhiều, ông lại muốn cho con học Luật. Làm giảng viên Toán cũng rất hay, nhưng phải đến 18 tuổi, từ giờ đến lúc đó phải tiếp tục mở mang kiến thức, nếu đến 18 tuổi mà vẫn thích Toán học hơn cả thì sẽ theo nghiệp đó. Với suy nghĩ như vậy, ông cho con theo học ĐH Haidelbelh, 2 năm sau Witte có học vị Tiến sĩ Luật học. Thời gian đó, Quốc vương Prosia có đề nghị cho Witte đi du học tại Italia, nhưng Witte cha thấy con mình tuổi còn nhỏ nên đã từ chối, đến năm 1818, khi đủ 18 tuổi, Witte bắt đầu tới nước Ý.
XX.
Nói về sức khỏe của Witte, từ nhỏ đến lớn đó luôn là một người rất khỏe mạnh, cả tinh thần và thể lực đều rất tốt. Witte cũng không phải người suốt ngày ngồi ở bàn học, ngược lại thời gian ngồi ở bàn rất ít, việc vận động và vui chơi ở ngoài lại khá nhiều. Vì Witte được giải thích cho biết nguyên cơ của mọi sự việc từ sớm, nên khác với trẻ khác, không có gì cậu nghe mà không hiểu. Witte lại sáng dạ, nên những trẻ khác rất thích chơi cùng. Và mặc dù hiểu biết hơn người nhưng Witte không bao giờ tỏ ra kiêu ngạo, coi thường người khác, nên bạn bè rất quý mến.
Từ xa xưa đã có câu nói “Học giả thì chỉ biết chúi mũi vào học” , nhưng Witte không phải là con mọt sách khô khan mà luôn luôn mang lại sự vui vẻ thoải mái cho người khác. Nhân cách Witte, dù trên cương vị học giả hay là người bình thường, đều rất hoàn thiện.

Chương 2: Thiên tài Witte đã được giáo dục từ sớm như thế nào?

Xem lại Chương 1: Giáo dục từ sớm là đào tạo anh tài
Chương 2: Thiên tài Witte đã được giáo dục từ sớm như thế nào?
Như đã giới thiệu ở chương trước, chúng ta biết rằng cha của Witte đã viết lại một cuốn sách về việc giáo dục Witte từ nhỏ đến lúc 14 tuổi, lấy tên là “Karl Witte, oder Erziehungs- ung Bildungsgeschichte Desselben”, là sách về phương pháp giáo dục cổ xưa nhất. Nhưng người thời đó hầu như không lưu giữ cuốn sách này. Có 2 lý do. Thứ nhất là vì cách viết kém: cuốn sách dày hơn 1000 trang nhưng hầu hết là những lý luận không trọng yếu và không lấy gì làm thú vị. Sau này Tiến sỹ Wiener đã dịch ra tiếng Anh và đã lược bỏ những phần đó, còn lại khoảng 300 trang, tuy nhiên vẫn còn nhiều chỗ dài dòng. (cuốn này tên là “The Education of Karl Witte”). Lý do thứ 2 là những luận điểm trong sách không phù hợp với cách nghĩ của người thời đó. Quan điểm mà cha của Witte đưa ra là: Giáo dục con trẻ phải bắt đầu từ buổi bình minh của nhận thức. Ông cũng đưa ra tập quán giáo dục từ sớm của người Hi Lạp, nhưng thực tế tập quán tốt đẹp đó đã không còn trên thế giới từ lâu, và thay vào đó người ta bắt đầu có quan điểm giáo dục trẻ từ 7,8 tuổi.
Ngày nay nhìn chung mọi người cũng nghĩ như thế, nhưng vào thời Witte, niềm tin đó còn tuyệt đối và sâu sắc hơn. Và người ta cho rằng Giáo dục từ sớm sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ. Chính vì thế, luận điểm giáo dục của cha Witte được xem như là “bạo ngôn”, và tài năng của Witte được nghĩ là do sinh ra đã có chứ không phải nhờ giáo dục mà nên.
Nguyên văn lời ông như sau: “Không ai tin rằng con tôi được như thế là do tôi dạy dỗ. Nếu quả thực con tôi trở thành nhân tài là do ơn huệ trời ban, là tài năng thiên bẩm thì tôi cũng không có gì đáng để vui mừng đến thế. Vì thực tế hoàn toàn không phải như vậy. Hầu hết mọi người đều không tin lời tôi, kể cả những người bạn thân. Chỉ duy nhất có một người tin tôi, đó là một mục sư, là bạn rất thân với tôi từ khi còn nhỏ, người hiểu tôi nhất. Ông ấy nói: Cháu Karl hoàn toàn không phải tài năng thiên bẩm. Cháu thực sự là kết quả của việc giáo dục. Nhìn vào cách giáo dục cháu thì việc cháu trở nên giỏi giang là điều tất yếu. Chắc chắn sau này cháu sẽ khiến cả thế giới ngạc nhiên. Tôi hiểu rất rõ phương pháp mà cháu được giáo dục và tôi tin rằng nó sẽ mang lại thành công lớn.
Và đây là những gì tôi đã làm:Trước khi con trai tôi được sinh ra, trong vùng Magdeburg và lân cận có một số giáo viên và mục sư trẻ. Những người này cùng nhau lập ra một hội nghiên cứu về giáo dục. Mục sư Graupit là 1 hội viên ở đó và ông đã giới thiệu tôi vào hội. Nhưng vào thời đó trong hội có tư tưởng rằng, giáo dục con trẻ quan trọng là ở khả năng thiên phú, và những giáo viên cho dù có tâm huyết dạy dỗ đến mấy thì kết quả cũng chỉ đến thế mà thôi. Chỉ có mình tôi là phản đối tư tưởng này. “Không, tôi nói, giáo dục con cái
thì điều cốt yếu không phải là tư chất sẵn có. Trẻ lớn lên trở thành nhân tài hay chỉ là người bình thường, ít nhiều cũng có yếu tố trời cho, nhưng quan trọng hơn là việc giáo dục trẻ trong giai đoạn từ khi mới sinh đến khi 5, 6 tuổi. Đương nhiên tư chất của trẻ có sự khác biệt, nhưng sự khác biệt này chỉ ở mức độ nhất định. Và, không chỉ đứa trẻ sinh ra với tài năng thiên bẩm mà cả những đứa trẻ sinh ra rất bình thường, ta đều có thể giáo dục chúng trở thành những tài năng phi phàm. Ervecius đã nói rằng, nếu 10 đứa trẻ cùng được giáo dục đúng đắn thì tất cả 10 sẽ trở thành nhân tài, và tôi rất tin tưởng vào luận điểm đó”. Tất cả mọi người lên tiếng phản đối tôi. Tôi lại nói “Các vị ở đây có 13, 14 người, còn tôi chỉ có 1 mình, nếu tranh luận thì tôi chẳng thể nào thắng được. Nhưng, tôi nhất định chọn con đường của tôi, và sẽ cho các vị thấy bằng chứng. Sau này nếu trời ban cho tôi một đứa con, bất kể nó thế nào, tôi cam đoan sẽ dạy dỗ nó thành một nhân tài.” Những người có mặt hôm đó đã nhận lời với tôi như vậy.
Khi buổi họp kết thúc, mục sư Shuder có mời tôi và Graupit về nhà.Và chúng tôi lại tiếp tục bàn về vấn đề trên. Nhưng nói gì đi nữa, tôi vẫn giữ ý kiến của mình. Graupit trước sau chỉ im lặng, cuối cùng mới lên tiếng, đúng như một người bạn thân lâu năm và hiểu tôi nhất “Tôi tin rằng Witte sẽ biến lời hứa của mình thành sự thực”. Riêng Shuder thì vẫn cho rằng đó là điều không thể.
Không lâu sau con trai tôi được sinh ra. Khi Graupit thông báo cho Shuder và các hội viên khác, ai nấy đều rất tò mò muốn biết con trai tôi là người ntn. Tôi và Graupit thường xuyên nhận được những câu hỏi kiểu như “Thế nào rồi, thằng bé có triển vọng trở thành nhân tài hay không?”.v.v., nhưng chúng tôi chỉ im lặng.(thiếu 1 trang)…
II.
(Trích lời của Ervecius) Người đàn ông trước khi trở thành một người cha cần phải rèn luyện bản thân, chuẩn bị tinh thần một cách tốt nhất, đồng thời người phụ nữ được lựa chọn làm bạn đời cũng phải là một người thông minh, có sức khỏe, có tâm hồn và có trái tim lương thiện.
Khi người vợ mang thai là phải bắt đầu cùng nhau cải tổ lại cuộc sống (lưu ý là cả vợ và chồng chứ không phải chỉ riêng người vợ). Nghĩa là, phải tạo lập 1 cuộc sống “sạch”, tránh các chất kích thích, uống nước sạch, thường xuyên ra ngoại ô hít thở bầu không khí trong
lành, luôn tười cười vui vẻ, hòa nhã với mọi người, giữ cho tinh thần được thư thái yên ổn. Đây là nội dung thuyết hôn nhân của Ervecius từ cách đây hàng trăm năm, cũng chính là khởi xướng cho những luận điểm cải cách sau này.
Nhưng, trong số những thuyết của ông thì thuyết về giáo dục là đáng ngạc nhiên hơn cả, đại ý là nếu 10 đứa trẻ cùng được giáo dục như nhau thì cả 10 đều có thể lớn lên tài giỏi xuất chúng. Cá nhân tôi tin tưởng vào thuyết này từ rất lâu trước khi con trai tôi được sinh ra. Tuy nhiên, khác với Ervecius, tôi vẫn thừa nhận có sự khác biệt về khả năng thiên bẩm của trẻ. Cái gì là trời ban cho, đương nhiên mỗi người mỗi khác. Có những đứa trẻ sinh ra được trời phú cho 100, cũng có những đứa trẻ sinh ra chỉ được không quá 10. Trong 10 đứa trẻ trung bình cứ coi như trời cho được 50. Nếu tất cả đều hưởng nền giáo dục như nhau, lớn lên chúng ít nhiều vẫn khác nhau, đó là do trời định. Nhưng cứ giả sử 1 đứa trẻ được trời cho 80, nếu không được giáo dục tốt chỉ đạt 40, nhưng đứa trẻ trời cho chỉ 50 mà giáo dục tốt cũng có thể đạt 40. Đương nhiên, đứa trẻ sẵn có 80 mà giáo dục tốt đương nhiên sẽ đặc biệt xuất sắc, tuy nhiên trên thực tế những đứa trẻ như vậy quả thực rất ít, mà đại đa số trẻ sẽ rơi vào khoảng 50, tức là ở mức trung bình. Và cho đến nay, nhìn những vĩ nhân, những thiên tài cũng vẫn thấy rất nhiều khuyết điểm mà nếu họ được thừa hưởng nền giáo dục khéo léo hơn thì nhất định họ sẽ trở nên vĩ đại hơn, hoàn hảo hơn, và kết quả sẽ là điều mà chúng ta khó có thể đo đếm được.
Như vậy, thuyết này sau hàng trăm năm có thể sẽ không còn đúng nữa, bởi vì khi đó tất cả trẻ sẽ được giáo dục như nhau và ở mức tốt nhất.
III.
Witte cha đã dựa vào thuyết giáo dục ở trên để đưa ra phương pháp cho con mình. Đó chính là phương pháp giáo dục bắt đầu từ buổi bình minh của nhận thức. Và ông tin rằng để con mình phát huy được 80, 90 phần năng lực thì nhất định phải theo phương pháp này.
Nhưng, như đã nói ở trên, khả năng tiềm tàng của con người tồn tại theo quy tắc giảm dần, nên khi đứa trẻ sinh ra và lớn lên, điều quan trọng nhất là không để cho khả năng tiềm tàng mai một dần đi, tức là phải nắm bắt cơ hội phát huy khả năng đó. Giáo dục từ sớm cần thiết là vì thế.
Tuy nhiên, để phát huy năng lực của trẻ cũng cần phải theo những trình tự nhất định mà đầu tiên quan trọng chính là giáo dục ngôn ngữ, vì ngôn ngữ chính là công cụ để tiếp cận mọi tri thức khác và sở dĩ con người tiến bộ hơn các động vật khác chính là ở chỗ chúng ta biết sử dụng ngôn ngữ khác với động vật. Witte cha đã bắt đầu dạy từ ngữ cho con ngay từ khi Witte con biết cảm nhận sự vật, và ông cũng viết rằng “Giáo dục con trẻ thì không có sự bắt đầu nào là quá sớm”.
Lấy ví dụ đưa 1 ngón tay dứ dứ trước mặt trẻ, khi trẻ nhìn thấy sẽ nắm lấy. Đầu tiên trẻ có thể chưa phát hiện ra và chưa nắm được, nhưng vài lần sẽ thành công. Khi nắm được rồi, trẻ sẽ rất vui mừng và cho ngay vào miệng, lúc đó là lúc ta bắt đầu phát âm từ “ngón tay, ngón tay” lặp đi lặp lại nhiều lần để cho trẻ nghe thấy.
Với cách làm này, Witte cha đã dạy cho con khả năng nghe chính xác từ ngữ đồng thời với việc nhận biết được sự vật, và không lâu sau Witte con đã phát âm được tên của các vật đó. Tiếp theo, Witte con được dạy nhận biết các đồ vật trên bàn ăn, các bộ phận của cơ thể, quần áo, đồ nội thất, các phần trong nhà, cây cỏ ngoài sân…Các động từ, tính từ cũng dần dần được dạy.
Trên thực tế, dạy cho trẻ nhớ được từ ngữ là điều không hề đơn giản, nhưng Witte cha đã làm điều này rất tốt. Việc học ngoại ngữ của chúng ta cũng thế, phải bắt đầu từ những từ đơn. Nhưng nếu học liên tục những đơn từ trong cả một quyển từ điển thì sau đó sẽ lại quên ngay. Cách để nhớ đơn từ là ta nên đọc một cuốn sách hay, và cố gắng để nhớ từ trong sách đó. Với trẻ con cũng vậy. Nếu cứ liên tục nhồi nhét từ ngữ thì sẽ không những ko có tác dụng mà còn có hại. Phương pháp của Witte cha là nói những chuyện liên quan đến sự vật muốn dạy, và đưa vào đó những từ mới và ý nghĩa của nó. Đầu tiên phải là những từ rất đơn giản, cứ thế mỗi ngày một chút, cho con nghe và nhớ dần từng thứ một. Đối với trẻ con thì nói chuyện là điều quan trọng nhất, vì trẻ là “người lạ” với thế giới này, và chúng cần phải biết về mọi thứ xung quanh càng sớm càng tốt.
Nói chuyện chính là cách duy nhất mở ra thế giới cũng như làm phong phú ngôn từ cho trẻ. Nhưng không phải chỉ nói để cho trẻ nghe, mà phải lặp đi lặp lại thì mới có hiệu quả. Kết quả của phương pháp này là khi Witte con 5,6 tuổi đã nhớ được khoảng 30000 từ vựng. Điều này thật sự rất đáng ngạc nhiên, vì đối với học sinh trung học, mất 5 năm học ngoại ngữ cũng không thể nhớ được 5000 từ, thông thường chỉ khoảng 3000.
Trong cách dạy con của Witte cha có một điều mà ta không thể không nói tới. Đó là việc ông không dạy những ngôn ngữ trẻ con, tiếng địa phương, hay những âm điệu. Ông cho rằng dạy những thứ gâu gâu, meo meo, cạp cạp chẳng có ích gì. Trẻ từ 2 tuổi khi nghe nhiều lần một từ chuẩn thì có thể phát âm gần chính xác từ đó. Vì thế nếu dạy gâu gâu, meo meo, thì chẳng khác nào lãng phí thời gian của trẻ. Thay vào đó, ông dạy luôn “con chó, con mèo” – là những từ chuẩn, ngay từ đầu. Nếu Witte phát âm đúng, ngay lập tức ông khen “Giỏi lắm, giỏi lắm”. Nếu chưa đúng ông lại nói “Mẹ nó xem, con đang nói gì thế này”… Nhờ đó Witte ngay từ lúc còn nhỏ đã rất biết cố gắng, và đã phát âm chuẩn được hầu hết các từ, không hề nói ngọng, nói lắp. Kết quả này cũng là nhờ từ khi còn ẵm ngửa, Witte đã được nghe rất nhiều những từ ngữ đúng như vậy.
Tiếp theo đó, Witte cha không dừng lại ở những từ và cách nói đơn giản, ông tiếp tục dạy con các từ phức và cách sử dụng chúng. Để dạy được chính xác, ông và cả vợ đều phải dùng những từ thật chuẩn, phát âm thật chuẩn, đồng thời dùng cách diễn đạt chính xác, mạch lạc, trong sáng, bỏ hẳn những từ địa phương. Điều này giúp cho Witte không chỉ nói tốt mà về sau còn đọc và hiểu được nhanh chóng những điều viết trong sách.
Ở nước ta, những trẻ em khoảng 10 tuổi nhưng vốn từ vựng nghèo nàn và khả năng diễn đạt kém vẫn còn nhiều, bởi vì ngay cả giáo viên ở trường cũng như vậy. Như đã nói, ngôn ngữ là con đường đưa chúng ta đến với tri thức. Nhưng nếu chỉ biết những từ vựng đơn giản mà không biết cách diễn đạt thì cũng không thể đạt được mục đích. Học sinh trung học nếu được dạy cách diễn đạt tốt ngay từ bậc tiểu học thì đến khi học ngoại ngữ sẽ nhanh hơn và tiến bộ hơn rất nhiều
IV.
Witte cha đã bắt đầu dạy con học đọc từ 3 tuổi, và đây hoàn toàn ko phải việc vô ích. Phương châm của ông là “Học không phải là bắt ép”. Ông luôn biết cách tạo hứng thú cho con, sau đó mới bắt đầu dạy. Đối với việc đọc, đầu tiên ông mua tranh và sách bằng tranh của trẻ con về, sau đó nghĩ ra những điều thú vị để nói với con, kích thích trí tò mò của con, đại khái như “Con không biết chữ thì cuốn sách này làm sao mà hiểu được nhỉ?”, hay là “bức tranh này nói về bao nhiêu điều thú vị, hay đến mức không ngủ được”… Thế là Witte con bắt đầu muốn học đọc chữ, và Witte cha bắt đầu dạy. Nhưng, cách dạy chữ của ông khác với tất
cả các trường học. Trước tiên ông đi Leipzig, mua mỗi loại 10 bộ những con chữ được in cỡ khoảng 10cm, bao gồm chữ cái tiếng Đức, La tinh, chữ số Ả Rập. Tiếp theo ông dán những chữ đó lên các tấm bảng nhỏ cùng cỡ và dùng nó để vừa chơi vừa dạy con. Lần lượt Witte con được dạy thông thạo tiếng Đức, rồi đến tiếng Pháp, Italia, Latinh. Trong số này thì tiếng Đức là tiếng mẹ đẻ, tiếng Pháp và Italia cũng có nhiều điểm tương đồng. Riêng tiếng Latinh là khó hơn cả. Ở phương Tây, khi học ngoại ngữ thường bắt đầu bằng tiếng Latinh, nhưng Witte cha thì cho rằng điều đó là không tự nhiên. Tiếng Pháp và Italia gần gũi với tiếng Đức, vì thế ông dạy con trước, còn tiếng Latinh là một ngôn ngữ khó, ông nghĩ cần phải có sự chuẩn bị trước.
Khi lên 7 tuổi, Witte con được cha đưa đến 1 buổi biểu diễn âm nhạc lớn. Vào giờ nghỉ giải lao, Witte con nhìn tấm bìa trong đó ghi lời của bản Opera và nói “Cha à, chữ trong này không phải tiếng Pháp, tiếng Italia, chắc là chữ Latinh phải không ạ?” “Đúng rồi, con thử suy nghĩ về ý nghĩa của nó xem”. Witte con suy diễn từ những ngôn ngữ đã học và cũng hiểu được đôi chút, cậu bé nói “Cha à, chữ Latinh dễ thế này thì con cũng cũng muốn học trước.” Khi đó Witte cha biết rằng có thể bắt đầu dạy con tiếng Latinh, và Witte con mất 9 tháng để nhớ được ngôn ngữ này. Tiếp đó, cậu bé học tiếng Anh mất 3 tháng, tiếng Hi Lạp mất 6 tháng nữa.
Chủ trương của Witte cha là “quen rồi thì sẽ nhớ”. Đối với tiếng mẹ đẻ thì đó là cách tốt nhất. Trẻ con có thể nghe mà không chán. Người lớn thường chỉ đọc 1 quyển tiểu thuyết 1 lần, nhưng trẻ con có thể nghe đi nghe lại nhiều lần mà vẫn thích thú. Cho nên, người lớn cần phải hướng trái tim mình theo trẻ thì mới dạy được trẻ. Witte cha rất tâm đắc với điều này khi dạy con. Khi học ngoại ngữ cũng thế, đối với 1 câu nói ông luôn luôn cho con đọc nhiều lần ở nhiều ngôn ngữ khác nhau, và phương pháp này đã thực sự mang lại hiệu quả.
V.
Như vậy không có nghĩa là Witte cha chỉ dạy ngoại ngữ cho con. Đối với 1 người bình thường, việc thông thạo 6 ngôn ngữ có thể là việc phấn đấu trong cả cuộc đời. Witte lại mới chỉ là 1 đứa trẻ, thế nên dễ khiến người ta nghĩ rằng chắc hẳn cậu bé chỉ có mỗi 1 việc là học ngoại ngữ. Thực tế không phải như vậy. So với những đứa trẻ khác thì thời gian Witte ngồi vào bàn học ít hơn rất nhiều. Cậu có một đời sống rất lành mạnh, vận động nhiều, vui chơi
hợp lý. Và ngoài việc thông thạo 6 ngoại ngữ, cậu còn được học cả về thực vật học, động vật học, vật lý, hóa học, toán học.
Ngay từ khi được 3, 4 tuổi, Witte con đã được cha dẫn đi dạo mỗi ngày ít nhất 2 tiếng. Trong thời gian đó, Witte cha vừa đi bộ vừa nói với con rất nhiều điều. Đi qua cánh đồng hoa ông cũng phân tích cho con nghe, cái này là gi, cái kia là gì. Bắt được con côn trùng nhỏ ông cũng giảng giải những hiểu biết của mình cho con. Từng viên đá, từng cọng cỏ đều là tư liệu để ông giảng bài. Ông tuyệt đối không bắt ép mà luôn tạo hứng thú cho con. Ông cũng không dạy theo hệ thống, cái này là thực vật học, cái kia lquan đến động vật học… Ông đưa những tri thức, những hiểu biết phù hợp với những thứ mà con có hứng thú trong khi đi dạo. Nhờ đó về sau, khi đọc sách về thực vật học, động vật học, Witte con không mất mấy thời gian để thấu hiểu.
Bí quyết dạy của ông là tạo cho con hứng thú và khuyến khích con đưa ra những câu hỏi, sau đó việc của ông là trả lời. Khác với chúng ta, khi con 2,3 tuổi và bắt đầu biết đặt câu hỏi thì luôn than phiền là con ồn ào, nhiều chuyện và thường trả lời đại khái cho xong chứ không tận tình giải thích. Chính điều này là giết chết năng lực của trẻ, để rồi khi con bắt đầu đi học lại kêu ca “sao con mình thành tích học tập không cao…” Witte cha thì không bao giờ như thế, ông nhất thiết không để con muốn nghĩ thế nào thì nghĩ, hiểu thế nào thì hiểu, kiên quyết không truyền đạt cho con những kiến thức sai lệch. Nếu gặp phải câu hỏi mà ngay cả bản thân mình cũng không nắm rõ, ông cũng không ngần ngại thừa nhận mình không biết, sau đó 2 cha con sẽ đi tìm hiểu trong sách hoặc đến thư viện. Điều này tạo cho con thói quen tìm tòi những kiến thức chính xác, gạt bỏ thói đại khái, giản tiện trong học tập nghiên cứu. Đối với môn địa lý, Witte cha dạy con bằng cách đưa con đi dạo vòng quanh khu làng, bằng cách này giúp Witte con có thể hiểu được cơ bản về các vùng lân cận. Vừa hay trong làng có một ngọn tháp cao, 2 cha con ông mang theo giấy bút, trèo lên tháp, từ đó có thể nhìn ra 4 phía. Ông giảng giải cho con phía này là gì, phía kia là gì, dựa vào đó 2 cha con cùng nhau vẽ một bản đồ sơ lược. Sau đó họ lại tiếp tục đi dạo, dần dân vẽ thêm đường đi, rừng núi, sông suối, dần dần hoàn thành bản đồ của các vùng lân cận. Xong xuôi ông mua 1 tấm bản đồ chuẩn, đối chiếu với bản đồ đã vẽ, sửa lại những chỗ chưa đúng, nhờ đó Witte con đã có khái niệm về bản đồ địa lý.
Vật lý và hóa học cũng được ông dạy theo cách tương tự.Với môn thiên văn học ông được sự giúp đỡ của nhà quý tộc Zekkendoruf. Gọi là nhà quý tộc, nhưng thực chất người này là một học giả. Ban đầu ông và Witte cha không quen biết, nhưng vì nghe nhiều người
đồn đại về Witte nên tìm đến xem thử. Đến nơi ông nhận thấy trình độ học lực của Witte còn hơn cả lời đồn đại rất nhiều, và ông đặc biệt lấy làm thú vị. Ông gọi Witte con đến nhà, tận tình chỉ bảo cho cậu bé bằng kính viễn vọng của mình. Dụng cụ nghiên cứu của ông, ngoài những thứ liên quan đến thiên văn học còn có cả về Vật lý và Hóa học, hơn nữa còn rất nhiều sách. Witte con được ông cho phép sử dụng tất cả chúng, nhờ đó cậu học ngày càng tiến bộ.
VI.
Điểm đáng chú ý trong phương pháp giáo dục của Witte cha là ở chỗ ông coi trọng việc mở rộng tầm hiểu biết cho con hơn là nhồi nhét học vấn vào đầu con, và ông luôn tận dụng mọi cơ hội để làm việc đó.
Thí dụ đứng trước một tòa nhà cao, ông sẽ nói với con đây là cái gì, là nơi họ làm những việc gì…; đứng trước 1 tòa thành cổ ông sẽ kể lại về lịch sử của nó…Từ khi Witte con 2 tuổi, ông đã đưa con đi khắp nơi, cả từ đi mua sắm, thăm hỏi bạn bè, đến xem các buổi lễ hội âm nhạc, vũ kịch.
Lúc rỗi rãi ông lại đưa con đi viện bảo tàng, bảo tàng mỹ thuật, vườn bách thú, bách thảo, thậm chí cả công trường, hầm mỏ, bệnh viện, nhà dưỡng lão. Sau khi từ các nơi đó trở về, ông để con tự nói lại tỉ mỉ hoặc kể lại cho mẹ. Vì thế ngay trong lúc đi xem, Witte rất biết chú ý quan sát và lắng nghe lời thuyết giảng của cha cũng như của những người hướng dẫn viên tại đó. Khi Witte 3 tuổi ông bắt đầu đưa con đi du lịch khắp nơi, và đến 5 tuổi thì cậu bé đã đi hầu hết các thành phố lớn của Đức.
Trên đường đi 2 cha con cùng leo núi, đến các khu danh lam thắng cảnh, thăm viếng các khu mộ cổ. Ở mỗi điểm du lịch ông đều bảo con viết thư kể cho mẹ và những người thân, đến khi về nhà lại kể lại lần nữa. Witte cha không bao giờ tiếc tiền bạc và công sức để trau dồi tri thức cho con, thậm chí ông sẵn sàng bỏ ra rất nhiều tiền để Witte được 1 nhà ảo thuật cho xem bí quyết của mình. Qua đây ta có thể thấy Witte cha tâm huyết với việc nuôi dạy con đến mức nào.
VII.
Witte cha hầu như không mua đồ chơi cho con. Ông cho rằng, trẻ không thể dựa vào đồ chơi mà nhớ được sự vật, và cứ cho trẻ chơi đồ chơi rồi lại ném đi là 1 sai lầm. Trên thực tế Witte con từ khi còn rất nhỏ đã biết đọc sách, quan sát sự vật, và không cần tiêu thụ thời gian rảnh rỗi vào việc chơi đồ chơi. Thành ngữ “Nhàn cư vi bất thiện” không chỉ đúng với người lớn mà cả trẻ con cũng vậy. Nếu cứ có đồ chơi rồi lại ném đi sẽ khiến trẻ thấy nhàm chán, bực mình, rồi sẽ phá hỏng, rồi lại quấy khóc. Witte cha cho rằng điều đó sẽ hình thành thói ưa phá hoại trong tính cách trẻ sau này. Ai cũng biết rằng khi trẻ chán sẽ dẫn đến bực bội, và sẽ thường nhằm vào đồ chơi, hoặc có thể là những thứ xung quanh, dù là cái gì thì kết quả cũng không hề vui vẻ. Sân của gia đình Witte được sửa lại để thành 1 khu vui chơi khá rộng cho Witte, sâu 60cm, rải sỏi, xung quanh trồng nhiều loại cây và hoa. Rải sỏi là để nếu mưa cũng sẽ nhanh khô, và có thể ngồi mà không bẩn quần áo. Ở đấy Witte con có thể tìm hiểu các loài hoa, côn trùng. Witte cha cho rằng, gần gũi với thiên nhiên là điều quan trọng nhất trong giáo dục.
Nói về đồ chơi, Witte con có 1 bộ là đồ dùng trong nhà bếp. Bởi vì trẻ con thường thích bắt chước người lớn, và những công việc trong nhà bếp là cái mà trẻ đặc biệt thích nhúng tay vào. Người lớn chúng ta thường cho rằng trẻ làm thể chỉ vướng chân, nhưng thực tế nếu làm tốt thì cũng là 1 cách mở rộng tri thức cho trẻ. Witte cha rất quan tâm đến điều này, đó là lý do vì sao ông chuẩn bị cho con 1 bộ đồ chơi là dụng cụ nhà bếp.
Mẹ của Witte cũng không giống như nhiều người mẹ khác. Bà thường vừa làm bếp vừa tận tình trả lời các câu hỏi của con. Sau đó bà hướng dẫn để con làm món ăn với các đồ chơi. Ví dụ, bà đóng vai trò người làm bếp, Witte là chủ nhà. Người làm bếp sẽ được yêu cầu làm nhiều việc, còn chủ nhà thì đưa ra mệnh lệnh. Nếu mệnh lệnh không hợp lý thì chủ nhà sẽ bị biến thành người làm bếp. Khi Witte thành người làm bếp thì mẹ sẽ là người ra lệnh, như là: bây giờ sẽ làm món này, món kia, hãy ra vườn lấy nguyên liệu về… , nếu lấy sai sẽ không được làm đầu bếp nữa. Những trò chơi có tính chất đóng kịch như thế của Witte rất nhiều, và người chỉ đạo luôn luôn là mẹ. Hai mẹ con có lúc diễn lại những cảnh trong sách lịch sử, có lúc lại chơi trò đi du lịch tới những nơi mà đã từng đi qua. Nhờ đó củng cố lại kiến thức về lịch sử và địa lý cho Witte.
Mẹ Witte kể lại như thế này: “Lần đó, Karl là mẹ, còn tôi là con. Karl là người đưa ra mệnh lệnh. Có những việc tôi cố ý làm rất tốt, có cái lại chẳng làm gì. Nếu Karl ko để ý đến điều đó thì sẽ bị thua và không đc làm mẹ nữa. Nhưng Karl đã phát hiện ra và góp ý với tôi rất nghiêm túc, tôi xin lỗi và hứa lần sau sẽ chú ý hơn. Sau đó tôi lại làm điều ko được phép,
Karl cũng mắng tôi giống hệt điệu bộ của tôi. Lần khác, Karl làm giáo viên, tôi làm học sinh. Tôi cũng cố ý mắc những lỗi mà Karl hay mắc phải, và Karl cũng nghiêm khắc mắng tôi. Với trò chơi này, Karl tránh được những việc chưa tốt thường ngày.”

Chương 1: Giáo dục từ sớm là đào tạo anh tài

Chương 1: Giáo dục từ sớm là đào tạo anh tài
I. Nhiều năm trước có một thiếu niên đã tốt nghiệp Đại học Havard khi mới 15 tuổi. Người thiếu niên đó có tên là William James Sidis, con trai của nhà tâm lý học nổi tiếng Boris Sidis, và thành tích học tập này được coi là hết sức kỳ diệu.
Cậu bé William bắt đầu được học từ khi 1 tuổi rưỡi, và đến lúc 3 tuổi đã biết đọc biết viết tiếng mẹ đẻ. Lên 5 tuôi, khi nhìn thấy tiêu bản một bộ xương trong nhà, cậu bé đặc biệt hứng thú với cấu tạo cơ thể người và bắt đầu bước vào môn Sinh lý học, không lâu sau đã đạt được trình độ học vấn tương đương với người có chứng chỉ hành nghề y thuật.
Vào mùa xuân năm lên sáu tuổi, cậu đến trường tiểu học cùng những đứa trẻ khác. Ngày nhập học, Willam vào lớp 1 lúc 9 giờ, và đến 12 giờ khi mẹ đến đón, cậu đã học xong lớp 3. Trong năm đó, cậu bé đã học xong tiểu học. Lên 7 tuổi Willam muốn học tiếp trung học nhưng vì tuổi còn nhỏ nên bị từ chối và phải học ở nhà, hầu hết là học về Toán học. Năm 8 tuổi cậu vào trường Trung học, môn nào cũng xuất sắc, đặc biệt là Toán học, đã có thể giúp thầy sửa bài cho những học sinh khác. Thời gian đó, Willam đã viết sách Thiên văn học, ngữ pháp tiếng Anh, tiếng Latinh. Những kiến thức Trung học tất cả đã được cậu nắm vững và chẳng mấy chốc đã tốt nghiệp. Tên tuổi Willam đã bắt đầu nổi tiếng, nhiều người gần xa đã đến tìm cậu để kiểm chứng, hết thảy đều hết sức khâm phục. Lấy ví dụ một giảng viên Đại học ở bang Massachusetts đã đưa cho cậu một câu hỏi khó trong đề thi Tiến sĩ của mình tại Đức, trong nháy mắt cậu đã hoàn thành. Lúc đó Willam mới 9 tuổi. Trong 2 năm 9-10 tuổi, Willam tự học ở nhà, và đến 11 tuổi thì vào học tại Havard, không lâu sau đã tham gia diễn thuyết về đề tài “Không gian chiều thứ 4” – một vấn đề rất khó của Toán học, và đã khiến các giảng viên hết sức ngạc nhiên. Năm 12 tuổi, Willam đã rất tâm đắc với cuốn “Thiên tài và người bình thường” của bố mình là Tiến sĩ Boris. Cậu đặc biệt giỏi về Thiên văn học và Toán học cao cấp, là những thứ mà các học giả thời đó rất đau đầu.
Đặc biệt hơn, Willam còn thuộc cả bản gốc bộ sử thi Iliad và Odise viết bằng tiếng Hi Lạp. Từ trước cậu đã rất giỏi các ngôn ngữ cổ xưa, những tác phẩm như Eskirus, Sofokures, Euripides, Aristofanes, Rusian, cậu đều đọc và hiểu dễ dàng, chẳng khác gì cuốn Robinson Cruso mà những đứa trẻ khác vẫn hay đọc. Cậu cũng nắm rõ về thần thoại và ngôn ngữ ví
von, lý luận học, lịch sử cổ đại, lịch sử nước Mỹ, hiểu biết về chính trị và hiến pháp của các quốc gia khác.
Với trình độ đó, cậu đã tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, và tiếp tục học để lấy bằng Tiến sĩ.
Cũng trong năm đó, cùng tuổi với Sidis còn có một thiếu niên khác cũng tốt nghiệp Havard, là Adoref Bar, con trai của Giảng viên môn Thần học trường ĐH Taft. Cậu vào học sau Sidis một chút, khi 13 tuổi rưỡi, tuy nhiên thay vì học 4 năm như mọi người, cậu chỉ học mất 3 năm. Sau đó cậu tiếp tục theo ngành Luật.
Ngoài ra vẫn còn một người khác, con trai của Tiến sĩ ngôn ngữ Slav (x-la-vơ), tên là Nobert Wiener. Cậu vào học Đại học trước Sidis, đúng ra là học ĐH Taft từ năm 10 tuổi, và đến năm 14 tuổi thì tốt nghiệp và học tiếp Cao học tại Havard, đỗ Tiến sĩ năm 18 tuổi. Đọc những điều ở trên người ta chắc hẳn sẽ nghĩ đấy chính là những Thần đồng trên thể giới. Nhưng, từ xa xưa đã có câu nói “ 10 (tuổi) là Thần đồng, 15 là Tài tử, còn trên 20 lại là người bình thường”, và chỉ có con cái của chính chúng ta mới là những bông hoa đẹp. Nếu ta chỉ làm được 1 chút và giải thích rằng ta chỉ là người bình thường, còn để là những Thần đồng trong một chốc lát đã học xong Đại học, thì là của hiếm, cách nghĩ đó là hoàn toàn sai lầm! Những người đó không phải một cách ngẫu nhiên được sinh ra đã là Thần đồng. Họ là kết quả của nhiều nền giáo dục, là những anh tài được đào tạo.
Bar và Nobert cũng có anh chị em, và cũng được trải qua quá trình học tập như nhau. Chị gái của Bar là Lina, trong khi Bar học tại Havard thì ở tuổi 15, Lina cũng vào học tại Đại học nữ Radcliffe và cùng đồng thời tốt nghiệp với Bar. Và, em gái của Wiener là Constans cũng vào học tại Radcliffe năm 14 tuổi, và cô em gái kế tiếp là Berta cũng vào học trong cùng năm ở tuổi 12. Không thể có sự ngẫu nhiên nào như thế. Đó thực sự là kết quả của việc giáo dục mà nên.
Nhưng, sự giáo dục cũng có nhiều loại, và nền giáo dục đó là như thế nào? Có thể nói nó cũng tựa như việc nuôi dưỡng trong nhà kính. Những cô bé cậu bé đó, cũng giống như là hoa trong nhà kính, được nhân tạo để ra hoa kết trái sớm, vì thế trở thành những thần đồng. Nói cách khác, đó chính là Thần đồng nhân tạo, và cũng sẽ không tránh khỏi sự tồn tại của bệnh tật, già lão, cũng như không tránh khỏi quy luật “từ 20 trở đi lại là người bình thường”.
II.
Từ xa xưa cũng đã có những người được hưởng nền giáo dục giống như những cô bé cậu bé ở trên. Nhà Luật học người Đức Carl Vitte là một trong số đó. Ông sinh vào tháng 7 năm 1800 tại một ngôi làng của vùng Hale. Cha ông chỉ là mục sư của làng, nhưng có rất nhiều sáng kiến đáng ngạc nhiên, trong số đó đặc biệt nhất là những lý luận về giáo dục. Khó có thể hiểu được tại sao ở vào thời đó ông đã có những suy nghĩ như vậy, nhưng quả thực ông đã cho rằng phải giáo dục con cái ngay từ khi là một đứa trẻ còn đỏ hỏn. Nói theo ngôn ngữ của ông, giáo dục con trẻ phải là giáo dục bắt đầu từ buổi bình minh của khả năng nhận thức, và ông tin rằng với cách đó, đứa trẻ sẽ trở nên phi phàm. Ông cũng tuyên bố rộng rãi rằng mình sẽ làm như vậy với con cái. Không may, đứa con đầu lòng của ông đã qua đời ngay sau khi sinh, và kế tiếp là Carl Vitte. Nhưng Vitte lại là đứa trẻ không thể ngờ tới, đến mức chính ông đã phải thốt lên “Tôi đã làm gì nên tội đến mức ông Trời phải khiến tôi có một đứa con đần độn như thể này!” Những người xung quanh cũng đến an ủi ông, ngoài mặt nói rằng không đến mức phải lo lắng quá, nhưng lại thì thầm sau lưng rằng Vitte đúng thực là một đứa trẻ kém phát triển.
Tuy nhiên, người cha đã không tuyệt vọng. Ông đã dần dần áp dụng những kế hoạch nuôi dưỡng của chính mình. Đầu tiên, ngay cả mẹ nó cũng nói rằng, đứa trẻ thế này thì dù có dạy dỗ thế nào cũng vô ích, sẽ chẳng thể trở thành gì cả. Nhưng tấm lòng người cha của ông không cho phép từ bỏ, và rồi không lâu sau đứa trẻ đần độn đã khiến tất cả mọi người xung quanh phải ngạc nhiên. Năm lên 8, 9 tuổi, cậu bé đã thông thạo 6 thứ tiếng: Đức, Pháp, Italia, Latinh, Anh và Hi Lạp; không những thế lại còn hiểu biết cả về Động vật học, Thực vật học, Vật lý, Hóa học, và đặc biệt là Toán học. Kết quả là năm 9 tuổi Vitte đã thi đỗ Đại học. Tháng 4 năm 1814, cậu bé chưa đầy 14 tuổi đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sỹ về đề tài Số học, và 2 năm sau đã thi đỗ Tiến sĩ Luật và được bổ nhiệm làm giảng viên Luật của trường Đại học Berlin. Nhưng trước khi đảm nhận cương vị giảng viên, Vitte nhận được khoản thừa kế lớn từ Quốc vương Prosia và sang Italia du học. Trong thời gian lưu lại Firenze, ông đột ngột chuyển sang nghiên cứu Dante (hình như là nghiên cứu Thần học nói về Địa ngục, linh hồn,…), là một nghiên cứu mà không chỉ đối với người nước ngoài mà ngay cả với người dân Italia là nơi Dante sinh ra cũng phát sinh rất nhiều những cách hiểu sai lạc. Ông tiếp tục quá trình nghiên cứu đến năm 23 tuổi và cho ra đời cuốn sách “Sai lầm của Dante”, là một cuốn sách chỉ trích những sai lầm của Học giả Dante thời bấy giờ và mở ra
một con đường nghiên cứu đúng đắn. Chuyên môn của ông là về Luật học, nhưng sau khi chuyển sang nghiên cứu Dante lại rất thành công trong lĩnh vực đó. Tuy nhiên Quốc vương Prosia cho ông đi Du học ở Italia là với mục đích để ông trở thành một Luật sư tài giỏi, vì thế ông tập trung vào nghiên cứu Luật học, còn nghiên cứu Dante chỉ như là giải trí. Sau khi từ Italia trở về, ông nhận cương vị giảng viên tại Đại học Bresau, 2 năm sau chuyển sang Đại học Hale và giảng dạy ở đó đến khi qua đời vào năm 1883.
Điều đáng mừng là cha ông đã ghi lại tất cả những phương pháp đã áp dụng với ông cho đến lúc 14 tuổi, và sau đó viết thành cuốn sách mang tên “Cách giáo dục với Carl Vitte” từ cách đây hàng trăm năm, nhưng hầu hết những người thời đó đều không lưu lại và nó gần như đã bị thất lạc hoàn toàn, và những gì còn lại đến ngày nay là rất ít. May sao trong thư viện của Đại học Havard còn lại một quyển, là quyển duy nhất ở Mỹ, và nó được bảo quản cẩn thận trong phòng các tác phẩm quý.
Độc giả hẳn còn nhớ, cha của Wiener là giảng viên tại trương Havard. Ông đã đọc cuốn “Cách giáo dục với Carl Vitte”, và dùng nó để dạy cho các con mình. Tiếp theo là cha của Sidis, cũng từng là học viên trương Havard, và cũng tình cờ đọc và áp dụng cuốn sách này. Còn về cha của Bar, tôi không rõ ông có mối liên hệ gì với trường Havard hay không, nhưng tôi đã đọc cuốn “Trường học gia đình” của ông, và biết chính xác rằng ông đã đọc cuốn “Cách giáo dục với Carl Vitte” cũng như đã nuôi dạy con theo cách đó.
Tóm lại, cả Wiener, Sidis và Bar đều được giáo dục theo phương pháp của Vitte, và nếu nhìn từ cuộc đời Vitte thì có thể thấy rằng họ sẽ có tương lai đầy triển vọng. Vì thế chúng ta cũng không cần phải quá lo lắng về việc “sau 20 tuổi sẽ thế nào” (sách của ông Kimura này cũng cũ lắm rồi, thời đó mấy người được kể ra ở trên vẫn chưa đến tuổi bách niên giai lão, vì thế ông chỉ có thể dự đoán tương lai của họ).
Đọc thêm về James Sidis và Nobert Wiener, đến cuối đời đúng là họ cũng khá thành công, và họ được biết đến như là một sản phẩm đào tạo thần đồng của cha mẹ, nhưng lại không có tuổi thơ hồn nhiên như những đứa trẻ khác.., có lẽ đấy cũng là mặt trái trong phương pháp này mà vào thời của mình tác giả Kimura chưa kiểm chứng được… Vì thế mình nghĩ rằng cuốn sách này chỉ có ý nghĩa tham khảo, tuy nhiên sẽ cố gắng dịch hết để mọi người cho ý kiến.
III.
Nói một cách ngắn gọn thì phương pháp mà Vitte được giáo dục cách đây hơn một trăm năm, sau đó áp dụng cho Sidis, Bar, Wiener, có thể gọi là Giáo dục từ sớm. Nói theo ngôn ngữ của Vitte-cha, thì đó là giáo dục từ buổi bình minh nhận thức của con trẻ. Tất cả những người áp dụng phương pháp này đều tin răng giáo dục từ sớm là cơ sở để đào tạo anh tài, và đây là một niềm tin có căn cứ xác đáng. Nếu nhìn vào lịch sử Hi Lạp có thể thấy Athens là một nơi mà “Thiên tài nhiều như sao trên trời”, trong khi dân số lại rất ít. Ở vào thời thịnh vượng cũng chỉ có khoảng 50 vạn người, nhưng trong số đó 4/5 là nô lệ. Năm 490 trước công nguyên, Vua Darius xứ Parsua, Ba Tư đã đưa 12 vạn binh, 6 trăm tàu chiến chinh phạt Athens, trong khi quân đội Athens chỉ có không quá 1 vạn người, nhưng kết quả tại trận đại chiến Marathon, Athens đã thắng, và chỉ bị tổn thất 192 người. Nhìn vào đấy có thể thấy rằng Athens tuy chỉ là một đô thị nhỏ nhưng có rất nhiều nhân tài. Thực chất, những nhân tài đó đều là những người được giáo dục từ sớm. Giáo dục từ sớm chính là 1 tập quán của người Hi Lạp xưa.
Thêm một ví dụ nữa, độc giả hẳn đã từng nghe tên Huân tước Kelvin William Thomson, nhà vật lý học vĩ đại sau Newton, cũng là một người được giáo dục từ khi còn rất nhỏ. Cha ông, James Thomson, là con của một nông dân người Scotland di cư sang Ireland sinh sống, tốt nghiệp đại học Glasgow năm 28 tuổi và được bổ nhiệm làm giảng viên Toán học tại học viện Hoàng gia Belfast. James Thomson có tất cả 4 người con, 2 con đầu là gái, 2 con trai sau là James và William. (James sinh năm 1822, William sinh năm 1824). Ngay từ khi sinh con ra, ông nhìn lại nửa cuộc đời mình và quyết định phải giáo dục con ngay từ khi còn nhỏ. Không ai biết ông có đọc sách của Vitte không, nhưng ông có một điểm chung với bố của Vitte, đó là bắt đầu dạy con đọc và viết từ khi học nói. Sau đó cùng với vợ dạy các môn Toán học, Lịch sử, Địa lý và tìm hiểu thiên nhiên. Ngoài việc giảng dạy môn Toán, ông còn viết sách, vì thế hết sức bận rộn. Hàng ngày ông dạy từ 4h sáng, Chuẩn bị bài giảng và viết sách, buổi trưa dành thời gian dạy con. Không may, năm 1830 vợ ông qua đời, là một cú sốc rất lớn với ông và các con. Còn lại một mình, ông vẫn tiếp tục cố gắng nuôi dạy anh em William. Năm 1933, ông được bổ nhiêm làm giáo sư Toán học tại Đại học Glasgow, nhờ đó ông có thể sắp xếp cho James (10 tuổi) và William (8 tuổi) tham gia các giờ giảng của mình và 2,3 giảng viên khác. Kết quả thật đáng mừng, sau 2 năm, các con ông đã được nhận vào học và đều là những học sinh xuất sắc khiến tất cả mọi người phải ngạc nhiên. Sau này thì ai
cũng biết, James trở thành chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật công nghiệp, còn William trở thành nhà vật lý học vĩ đại, huân tước Kelvin.
Tiếp theo là John Steward Mill, nhà Triết học, kinh tế học, chính trị học, lý luận học, cũng là người được giáo dục từ rất sớm (ông này cũng giỏi giang giống mấy ông kia, nhưng đọc thêm ở ngoài thấy ông có bị một tgian khủng hoảng tinh thần ở tuổi 20, mà chính ông phân tích là do một phần tác động của việc ko được hưởng thời thơ ấu bthg, tuy nhiên tg đó cũng ko kéo dài và ông tiếp tục thành đạt)
(Sau ông này còn mấy ví dụ nữa cho 1 ông nhà thơ, 1 ông thủ tướng, 1 ông luật học, đều theo mạch trên).
IV.
Nếu ta trồng một cái cây và để nó tự phát triển thì có thể nó sẽ không sống được, cũng có thể vẫn sống và cao đến 1m, nếu ta chăm sóc nó có thể cao đến 1.5m, chăm sóc tốt hơn nữa có thể được 1.8m, 2m hay hơn thế. Một con người cũng như vậy. Đứa trẻ sinh ra sẵn có 100 phần năng lực, nhưng nếu cứ để một cách tự nhiên thì có thể chỉ phát triển được 20, 30 phần. Nếu được giáo dục tốt có thể khi trưởng thành sẽ phát triển đến 60, 70 phần, hay tốt hơn là được 80, 90 phần. Lý tưởng nhất là đứa trẻ được giáo dục để phát huy được đủ 100 phần năng lực của mình. Nhưng năng lực của trẻ tồn tại theo quy tắc giảm dần: Nếu được giáo dục tốt từ khi sinh ra thì có thể đạt được đủ 100 phần, nhưng nếu bắt đầu giáo dục từ khi 5 tuổi thì dù có làm tốt đến mấy cũng chỉ phát huy được 80 phần, nếu bắt đầu từ 10 tuổi thì tối đa chỉ được 60 phần.
Nghĩa là, thời điểm bắt đầu càng muộn bao nhiêu thì khả năng phát huy năng lực sẵn có cũng giảm đi bấy nhiêu.
Vậy tại sao lại có quy tắc giảm dần này?
Đối với mỗi loài động vật, khả năng của chúng đều có một thời kỳ phát triển nhất định. Đương nhiên có những khả năng mà thời kỳ dành cho việc phát triển là khá dài, nhưng có những khả năng chỉ có thể phát triển trong 1 thời gian rất ngắn, và nếu nó không được phát triển trong thời gian đó thì sẽ vĩnh viễn mất đi. Lấy ví dụ kỳ phát triển “khả năng theo dấu gà
mẹ” của gà con là thời gian sau khi sinh được khoảng 4 ngày, nếu trong vòng 4 ngày mà tách gà con khỏi gà mẹ thì sau đó gà con sẽ không bao giờ biết đi theo gà mẹ nữa. Hay là kỳ phát triển “khả năng nghe được tiếng gà mẹ” là tgian sau khi sinh 8 ngày, nếu trong 8 ngày mà gà con không được nghe tiếng gà mẹ thì sau đó cũng sẽ ko bgiờ nhận dạng được tiếng đó nữa.
Đối với chó con cũng có 1 khả năng gọi là “chôn những thức ăn thừa vào đất” (hình như chó VN và chó Nhật khác nhau nhỉ             ), khả năng này cũng chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, mà nếu đúng vào thời gian đó, chó con được nuôi trong ngôi nhà không có chỗ để chôn những thứ này thì sau này nó cũng sẽ không bg biết làm việc đó nữa.
Con người chúng ta cũng như vậy.Có một mùa hè tôi đến một ngôi làng làm ngư nghiệp và gặp một ngư dân, ông than phiền với tôi rằng, gần đây chẳng có người nào bơi giỏi, chèo thuyền, quăng lưới giỏi như trước nữa, bởi vì vào tuổi 11, 12 là thời kỳ rất quan trọng để bắt đầu cho việc đó thì các em đều phải đến trường. Tôi cũng từng nghe rằng khi chính phủ đưa ra chính sách phổ cập giáo dục thì số lượng những nghệ nhân trong lĩnh vực thủ công hầu như không có. Hay đối với việc học ngoại ngữ, nếu không bắt đầu từ trước 10 tuổi thì sau này cũng sẽ không khá được. Học piano thì muốn thành tài nhất thiết phải bắt đầu trước 5 tuổi, còn violon thì lại phải từ lúc 3 tuổi… Mỗi chúng ta đều có cơ hội để phát triển khả năng của mình, nhưng nếu bỏ qua thời kỳ của sự phát triển đó thì từng thứ một sẽ vĩnh viễn mất đi. Đấy gọi là sự giảm dần khả năng tiềm tàng của trẻ. Và “giáo dục từ sớm là đào tạo nhân tài”chính là ở dựa trên quan điểm đó.
Nhưng, độc giả có thể sẽ lo lắng cho sức khỏe của con mình nếu được giáo dục từ sớm. Thật ra đây cũng là vấn đề nan giải mà từ xưa người ta đã nghĩ đến. Cha của Witte, cha của anh em nhà Thomson,…đều phải đối mặt với vđề này. Nhưng trên thực tế, nhưng người ma ta đã tìm hiểu ở trên tất cả đều có sức khỏe tốt: Witte sống đến 83 tuổi, Huân tước Kelvin thọ 83 tuổi, James Thomson 70 tuổi… Tóm lại là không có bằng chứng nào về việc giáo dục từ sớm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ.

Bồi dưỡng tình yêu thương cho trẻ để dạy con theo phương pháp Glenn Doman dễ dàng hơn

Bồi dưỡng tình yêu thương cho trẻ bằng 6 điều cơ bản sau đây sẽ giúp cho bạn dạy con theo phương pháp Glenn Doman dễ dàng hơn
1. Dành thời gian đưa con đi ngủ
Một trong những khoảnh khắc vô giá mà tất cả các bà mẹ đều nên trải nghiệm và tận hưởng với con mình đó là đưa bé đi ngủ. Không có khoảnh khắc nào tuyệt vời hơn khi một người mẹ đưa con vào giường, đọc cho bé nghe một câu chuyện, hát một bài hát ru, và cuối cùng là đưa bé vào một giấc ngủ ngon lành với những giấc mơ đẹp. Nếu con bạn lớn hơn chút nữa thì khoảnh khắc bạn ngắm con yêu ngủ một cách yên bình cũng là một trải nghiệm vô cùng tuyệt vời.
2. Trò chuyện về những điều quan trọng với con
Nếu con hỏi bạn về điều gì đó nghe có vẻ ngớ ngẩn thì đừng vội vàng gạt đi. Hãy trò chuyện riêng với con và tìm hiểu những điều đang diễn ra trong đầu chúng. Khi bạn nói với con về những điều gần gũi với trái tim con thì bạn sẽ có thể tận hưởng niềm thích thú khi nhìn thấy con trưởng thành nhanh như thế nào. Có thể giải đáp những vấn đề được xem là quan trọng với con trẻ là niềm vui vô giá mà mọi bà mẹ đều nên trải nghiệm.
3. Cùng cười to khi ôn lại những kỷ niệm hài hước
Đôi khi, có những điều có vẻ hết sức ngốc nghếch trong hiện tại lại trở nên vô cùng quý giá đối với một người mẹ và con cái của cô ấy trong tương lai khi họ cùng nhau nhìn lại. Nếu bạn và con mình đã từng phá lên cười khi không may làm đổ đồ ăn xuống bàn, khi kể một câu chuyện đùa ngớ ngẩn, khi bị trượt lúc đang đi bộ, hoặc trước những điều ngốc nghếch tương tự như vậy, bạn sẽ thấy những tình huống đó trở thành những kỷ niệm vô cùng quý giá về con mình trong tương lai. Những khoảnh khắc hài hước đó có thể quá nhỏ nhặt để bạn trân trọng ngay từ bây giờ, nhưng chắc chắn bạn sẽ rơi nước mắt khi bạn nhớ lại chúng nhiều năm sau này khi con cái đã lớn khôn.
4. Xem con biểu diễn trên sân khấu
Một trong những việc phổ biến nhất mà tất cả các bà mẹ thích được thưởng thức đó chính là xem con mình biểu diễn trên sân khấu. Đó có thể là xem con (lúc mới đang chập chững biết đi) diễn kịch, xem con (lúc đang ở độ tuổi học cấp 1) hát trên sân khấu trước toàn trường, hoặc xem con (sắp bước vào tuổi trưởng thành) phát biểu trong một sự kiện của trường học. Xem con mình biểu diễn trên sân khấu thực sự là một khoảnh khắc vô giá mà bạn sẽ nâng niu và trân trọng suốt cuộc đời.
5. Khi con chăm sóc bạn
Một điều đương nhiên là các bà mẹ sẽ luôn chăm sóc con cái của mình với tất cả tình yêu thương. Tuy nhiên, khi những đứa con bước ra khỏi vòng tay chăm sóc của mẹ và chăm sóc lại mẹ, thì những người mẹ sẽ thấy thực sự xúc động. Hãy đắm mình trong hạnh phúc với con cái, không quan trọng là khi đã già hay còn trẻ. Trái tim bạn sẽ tan chảy trong hạnh phúc mỗi khi bạn nhớ lại khoảnh khắc không thể quên đó.
6. Khi con thể hiện tình yêu dành cho bạn
Bạn có nhớ lần cuối cùng khi bé con của bạn chạy nhào vào vòng tay bạn? Bạn có nhớ khi con thì thầm “Con yêu mẹ”? Một người mẹ có thể dành cả ngày của mình để ở bên con nhưng cô ấy sẽ cảm thấy tuyệt vời đến nhường nào khi những đứa con cô yêu thương hết mực thể hiện tình yêu của chúng dành cho cô. Khi con nói với bạn rằng chúng yêu bạn, hãy đáp trả lại tình yêu đó bằng một nụ hôn và một cái ôm thật chặt để chia sẻ với chúng khoảnh khắc tuyệt đẹp và quý giá của người mẹ.

Ba năm đầu đời của trẻ bán cầu não phải mới là não thuận

Theo GS. Glenn Doman(Sáng lập nên viện nghiên cứu thành tựu tiềm năng con người IAHP), việc kích hoạt não phải không những làm cho trẻ học hiệu quả hơn mà còn kích thích khả năng thiên tài của trẻ. Không phải việc giáo dục bằng não phải mang lại cho bạn một đứa trẻ thiên tài, mà luôn luôn có một thiên tài trong mỗi đứa trẻ nếu chúng ta biết cách kích thích não phải đúng cách.
Hầu hết mọi người đều có một bên tay thuận, chân thuận và mắt thuận. Não cũng vậy, hầu hết chúng ta đều thuận não trái. Nhưng ít ai biết được rằng trong 3 năm đầu đời, não phải mới là bán cầu não thuận của chúng ta.

Đại não của chúng ta hết sức thần kỳ, ẩn chứa một tiềm lực vô hạn, là nơi quan trọng để bồi dưỡng và nâng cao tiềm năng của con người. Đại não gồm não trái và não phải do các dây thần kinh kết nối hai bán cầu đại não. Các nhà khoa học từ lâu đã phát hiện ra rằng có một dây thần kinh gọi là đường Mason Dixon chia não bộ của con người ra làm 2 phần, bán cầu nào phải và bán cầu não trái. Thế thì đúng là rắc rối thật. Tại sao lại phải tốn công tốn sức phát triển phần não bên phải của chúng ta? Đó là bởi vì phần lớn các công việc mà phần não bên trái xử lý như lập trình, kế toán tài chính và thực hiện các cuộc gọi định tuyến (những công việc đã từng được các công nhân Mỹ thực hiện), thì giờ đây chúng có thể được thực hiện một cách hiệu quả hơn và có chi phí thấp hơn bằng thuê ngoài hoặc sử dụng công nghệ tự động. Trong khi đó, các ý tưởng đột phá thường là kết quả của nửa còn lại bộ não. Não phải tiếp nhận cảm giác về âm thanh, màu sắc và nghệ thuật. Giờ đây, những tấm bằng Thạc sỹ Nghệ thuật (MFA: master of fine arts), là một tấm bằng quản trị kinh doanh mới. Ngày càng có nhiều công việc ở Mỹ hoặc các nền kinh tế phát triển khác cần đến sự hiểu biết về toán học và những khái niệm về tính toán.
Thậm chí vai trò của bán cầu não phải sẽ được phát huy bởi các phép tính phức tạp về toán học và logic.
Các nhân viên của các tập đoàn lớn hiện nay đều phải chinh phục các câu hỏi về tư duy sáng tạo khi vượt qua các vòng phỏng vấn để trở thành những
nhân viên chính thức. Trong cuốn “Làm thế nào để dịch chuyển núi Phú Sĩ” các tác giả đã mô tả quá trình của phỏng vấn tuyển dụng tại Microsoft, các ứng viên luôn nhận được những câu hỏi mà đòi hỏi kĩ năng “suy nghĩ ngoài chiếc hộp” (thinking out of the box) của các ứng viên như: “làm sao để dịch chuyển núi phú sĩ? có bao nhiêu cây cầu trong thành phố? vì sao chiếc nắp cống lại hình tròn?…
Tony Buzan cha đẻ của ứng dụng Minmap (bản đồ tư duy) cũng đã ứng dụng não phải cho việc phát triển lý thuyết của mình về sử dụng bản đồ tư duy trong công việc. Ứng dụng của bản đồ tư duy là sự kết hợp giữa dữ liệu, con số logic (não trái)…với ứng dụng hình ảnh, màu sắc, đường nét…(não phải) để thúc đẩy sự sáng tạo của bộ não trong việc phân tích các vấn đề trong công việc. Và đó là một thành tựu tuyệt vời và Mindmap được coi là sự phát minh vĩ đại trong ngành công nghệ sáng tạo trong việc phát huy bộ não con người.
Xin nhắc lại, trong 3 năm đầu đời, não phải mới là bán cầu não thuận của chúng ta. Bán cầu não phải phát triển trước bán cầu não trái cho đến khi 3 tuổi. Như vậy, tất cả những đứa trẻ đều có khả năng sáng tạo vô hạn. Điều quan trọng là làm thế nào để kích thích sự sáng tạo đó, chứ không phải là làm cho nó thui chột đi.
Theo GS. Glenn Doman, việc kích hoạt não phải không những làm cho trẻ học hiệu quả hơn mà còn kích thích khả năng thiên tài của trẻ. Không phải việc giáo dục bằng não phải mang lại cho bạn một đứa trẻ thiên tài, mà luôn luôn có một thiên tài trong mỗi đứa trẻ nếu chúng ta biết cách kích thích não phải đúng cách.

Lợi và hại khi cho trẻ xem ti vi

Vẫn biết xem ti vi có nhiều lợi ích đối với trẻ như làm giàu thêm kiến thức, óc tưởng tượng cũng như vốn từ của trẻ. Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt của nó, mà chúng ta nên tìm hiểu cả mặt lợi và hại để phòng tránh mặt hại tác động tới sức khỏe con em mình

Nhiều nhà khoa học từng nghiên cứu những tác động của việc xem tivi đối với trẻ em, song rất ít người tìm hiểu những tác động đối với trẻ dưới hai tuổi.
Livescience cho biết, các nhà khoa học của Đại học Montreal, Canada thu thập dữ liệu của 1.300 trẻ em tại Quebec, Canada trong khoảng thời gian từ năm 1997-1998. Sau đó họ tiếp tục theo dõi các em trong những năm tiếp theo. Nhóm nghiên cứu hỏi cha mẹ các bé về thời gian con họ xem tivi khi chúng được 29 tháng và 53 tháng.
Khi trẻ học tới lớp 4, nhóm nghiên cức yêu cầu các giáo viên dạy chúng đánh giá khả năng đọc, làm toán, mức độ chú ý nghe giảng, quan hệ với bạn bè và nhiều khía cạnh khác. Giáo viên cũng đánh giá các tương tác xã hội của trẻ, như hành vi bắt nạt hoặc giúp đỡ học sinh khác.

Kết quả cho thấy thời gian xem tivi trung bình của trẻ ở tháng thứ 29 là 1,2 giờ mỗi ngày. Trong khi đó, Viện nghiên cứu bệnh trẻ em Mỹ và viện nghiên cứu tiềm năng con người Glenn Doman khẳng định trẻ em dưới hai tuổi không nên xem tivi, còn trẻ trên hai tuổi chỉ xem tối đa hai giờ mỗi ngày.
Cứ mỗi giờ xem tivi nhiều hơn mức trung bình, trẻ sẽ đối mặt với những nguy cơ sau:

Bệnh béo phì Trẻ em: Xem Tivi hơn hai giờ một ngày có nhiều khả năng là thừa cân.
Giấc ngủ không thường xuyên: Các trẻ em xem tivi nhiều gặp khó khăn khi đi vào giấc ngủ.
Các vấn đề hành vi: Học sinh tiểu học dành hơn hai giờ một ngày xem TV hoặc sử dụng máy tính có nhiều khả năng có vấn đề về cảm xúc, quan hệ xã hội và sự tập trung. Tiếp xúc với các trò chơi game cũng làm tăng nguy cơ không tập trung. Trẻ em xem tivi nhiều có xu hướng hay bắt nặt trẻ em so với trẻ ít xem tivi.
Hiệu quả học tập: Học sinh tiểu học có TV hay máy tính trong phòng ngủ có kết quả học tập kém hơn các em không có TV hay máy tính trong phòng ngủ.
Bạo lực: Quá nhiều tiếp xúc với bạo lực trên TV và trong phim ảnh, video âm nhạc, game và máy tính có thể làm trẻ giảm sự nhạy cảm với bạo lực. Kết quả là, trẻ em có thể học cách chấp nhận hành vi bạo lực như là một phần bình thường của cuộc sống và là một cách để giải quyết vấn đề.
Ít thời gian để chơi: Dùng màn hình quá nhiều thời gian làm trẻ có ít thời gian hơn để chơi các trò chơi vận động, hay sáng tạo

Theo GLenn Doman, kết quả vẫn đúng ngay cả khi các nhà nghiên cứu loại trừ những yếu tố có thể ảnh hưởng như giới tính, thời gian ngủ, trình độ học vấn của mẹ, tính cách của trẻ, thời gian trẻ xem tivi mỗi ngày.
Linda S. Pagani, trưởng nhóm nghiên cứu, cho rằng xem tivi quá sớm và quá nhiều gây nên tác động lâu dài vì nó xảy ra vào giai đoạn mà não và lối sống của trẻ đang phát triển.
“Xem tivi là một hoạt động thụ động cả về trí óc lẫn thể chất. Khi hoạt động ấy xảy ra vào giai đoạn mà bộ não đang phát triển, lối sống và sở thích đang hình thành thì sẽ có nhiều hậu quả tiêu cực xuất hiện trong tương lai”, Pagani nói.

Tăng cường khả năng cảm thụ âm nhạc cho trẻ

Hàng trăm năm nay, những bài hát ru luôn là bận đồng hành của trẻ nhỏ, đưa trẻ vào những giấc ngủ an lành với những điệu nhạc du dương êm ái qua tiếng hát của mẹ. Nó như một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi gia đình có con nhỏ. Tại sao vậy? Bởi vì âm nhạc giúp làm dịu tâm trạng, tạo cho bé điều kiện để phát triển ngôn ngữ và trên hết âm nhạc giúp cả bố mẹ và bé tận hưởng những phút giây thoải mái nhất. Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc tiếp xúc với âm nhạc cổ điển thậm chí còn làm tăng trí thông minh của trẻ.Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng thậm chí cả khi còn nằm trong bụng mẹ thì bé đã phản ứng lại khi nghe thấy tiếng nhạc và giai điệu. Thính giác của thai nhi đã hoàn toàn phát triển trong thai kì thứ 3 và khi bé nghe được mẹ cho nghe nhạc nhiều khi vẫn còn trong bụng mẹ thì sau khi sinh ra tâm trạng bé sẽ luôn được cảm thấy thoải mái và dễ chịu.
Tăng cường khả năng cảm thụ âm nhạc cho trẻ
Bạn có nhớ khi còn là một đứa trẻ, cách bạn nghe, nhận biết và cảm thụ âm nhạc khác với hiện tại như thế nào không?

Khi nghe nhạc, con người thực hiện một quá trình nhận thức rất phức tạp: cùng một lúc, bộ não phải ghi nhớ, xâu chuỗi các yếu tố cấu thành âm nhạc như giai điệu, tiết tấu, âm sắc nhạc cụ, hòa âm v.v. để có thể cảm nhận được một bản nhạc hoàn chỉnh.

Vậy khả năng nhận thức âm nhạc là bẩm sinh hay phải qua trải nghiệm và luyện tập mới có được? Các nhà khoa học đã nghiên cứu quá trình phát triển khả năng nhận thức này ở con người từ khi lọt lòng đến khi trưởng thành để tìm ra câu trả lời.

Rất nhiều người tự nhận mình bẩm sinh không có khả năng cảm thụ âm nhạc, hay nói vui là ‘tai trâu’. Nhưng rõ ràng thực tế là tất cả mọi người đều sở hữu ‘tai người’. Với các thí nghiệm sử dụng công nghệ đo đạc não bộ tiên tiến, các nhà khoa học đã tìm ra những bằng chứng cho thấy ngay từ trong bụng mẹ, tất cả chúng ta đã sở hữu một số tố chất để lĩnh hội âm nhạc.

Từ khi còn là thai nhi, cơ quan thính giác của con người đã khá nhạy cảm. Những âm thanh từ cơ thể người mẹ như tiếng thở, tiếng tim đập, tiếng mẹ nói v.v. đều có thể kích thích cơ quan thính giác của thai nhi. Đến khoảng 28-32 tuần tuổi, thai nhi đã có thể có những phản ứng vận động đối với các kích thích âm thanh từ bên ngoài (LeCanuet, 1996). Việc tiếp xúc với các loại âm thanh khi còn trong bụng mẹ cũng có thể ảnh hưởng đến độ nhạy cảm và sở thích âm thanh của trẻ. Mặc dù thai nhi chỉ có thể nghe được những âm thanh có tần số sóng âm thấp và các âm thanh cũng bị nghẹt (do sóng âm bị thay đổi khi truyền qua nước ối – hãy thử tưởng tượng như khi ta nghe âm thanh dưới nước vậy), nhưng nó vẫn có thể nhận ra đường nét giai điệu và tiết tấu của lời nói hoặc âm nhạc và sẽ có xu hướng thích những âm thanh đã quen thuộc với mình từ khi còn trong bụng mẹ hơn.

Một thí nghiệm của DeCasper và cộng sự (1986) đã cho thấy các em bé tỏ ra thích thú hơn với ngữ điệu của những câu chuyện được mẹ đọc đi đọc lại thành tiếng trong ba tháng cuối của thai kỳ. Đặc biệt, các em bé sơ sinh có khả năng nhận ra giọng nói của mẹ mình. Như vậy, có thể nói khi vừa được sinh ra, các em bé đã có sự nhạy cảm nhất định đối với âm thanh. Đây là nền tảng chuẩn bị cơ bản cho những trải nghiệm âm nhạc sau này. Ta sẽ xem xét lần lượt khả năng trẻ nhỏ nhận biết từng yếu tố cơ bản tạo nên âm nhạc như thế nào.

Cao độ
Tăng cường khả năng cảm thụ âm nhạc cho trẻ
Nhìn chung, trẻ em có thể nhận biết cao độ khá chính xác, gần như người lớn. Ví dụ, các thí nghiệm cho thấy trẻ 7-10 tháng tuổi đã có thể nhận ra cả những thay đổi nhỏ chỉ nửa cung trong cao độ (Thorpe, 1986). Hơn nữa, trẻ em có thể nhận biết được hai nốt bất kỳ có cách nhau một quãng tám hay không (quãng tám là một hiện tượng tự nhiên được coi là “sự kỳ diệu cơ bản của âm nhạc”, là khoảng cách giữa hai cao độ có tần số sóng âm gấp đôi nhau, tạo ra cảm giác rất tương đồng trong người nghe, ví dụ “Đồ” và “Đố”, “Là” và “Lá” v.v.) (Demany & Armand, 1984). Tuy nhiên, khả năng nhận biết cao độ và âm sắc của các nhạc cụ cũng phụ thuộc vào sự trưởng thành của cơ quan thính giác nữa. Các nghiên cứu cho thấy tuy độ nhạy cảm đối với cao độ là tố chất sẵn có của con người nhưng trẻ em nghe tốt những cao độ có tần số cao (âm vực cao) hơn và khả năng phân biệt những cao độ có tần số thấp (âm vực trầm) sẽ cải thiện dần dần cho đến năm 10 tuổi, bởi đến lúc đó ống nhĩ mới phát triển đầy đủ (Elliot & Katz, 1980).

Tiết tấuTăng cường khả năng cảm thụ âm nhạc cho trẻ
Cùng với cao độ, tiết tấu là một trong những yếu tố cơ bản tạo thành âm nhạc. Từ khi mới hai tháng tuổi, trẻ đã có khả năng cảm nhận được nhịp điệu ổn định của một bản nhạc, phân biệt được các dạng tiết tấu khác nhau (Winkler, 2009), và đến bảy tháng tuổi có thể phân loại các dạng tiết tấu dựa theo nhịp điệu của bản nhạc, ví dụ như phân biệt các tiết tấu trong nhịp 2/4 với các tiết tấu trong nhịp 3/4 (Hannon & Johnson, 2005). Nhưng điều thú vị là sự nhạy cảm với tiết tấu của một người cũng được định hướng bởi nền văn hóa âm nhạc mà người đó tiếp xúc thường xuyên nhất. Trong một thí nghiệm, Hannon và Trehub (2005) đã cho trẻ sáu tháng tuổi nghe hai loại tiết tấu: một là đặc trưng của âm nhạc cổ điển phương Tây và một đặc trưng cho âm nhạc vùng Balkan (của các dân tộc Đông Nam Âu, thường có tiết tấu rất phức tạp). Kết quả cho thấy trẻ có thể nhận ra những lỗi sai trong cả hai loại tiết tấu tốt như nhau. Sau đó, Hannon và Trehub cho một số trẻ chỉ nghe nhạc cổ điển phương Tây trong một thời gian dài. Kết quả là đến khi 12 tháng tuổi, trong một thí nghiệm tương tự, những trẻ này tỏ ra ít nhạy cảm với tiết tấu âm nhạc Balkan hơn. Điều này gợi ý rằng trẻ em sinh ra có khả năng nhận biết một phạm vi rộng các phương thức sắp xếp tiết tấu khác nhau, nhưng dưới sự tiếp xúc thường xuyên với một hệ thống văn hóa âm nhạc nào đó, các em trở nên nhạy cảm chỉ với một số loại tiết tấu nhất định.

Đường nét giai điệu

Có lẽ đường nét giai điệu là yếu tố thu hút nhiều chú ý nhất của phần đông người nghe nhạc. Rất nhiều thí nghiệm đã cho thấy khả năng nhận biết đường nét giai điệu tốt ở trẻ sơ sinh. Trẻ 8-10 tháng tuổi có thể nhận ra khi một giai điệu thay đổi đường nét (ví dụ giai điệu đi lên thay vì đi xuống), và sử dụng đường nét để giúp nhớ một giai điệu như người lớn vậy (Trehub & Thorpe, 1984, 1987). Các nhà khoa học cũng chú ý rất nhiều đến mối liên hệ giữa sự nhận thức ngôn ngữ và âm nhạc, bởi lời nói bổng trầm cũng có những đặc tính về đường nét giai điệu và tiết tấu như âm nhạc. Bởi vậy có thể giải thích sự nhạy cảm bẩm sinh của trẻ em đối với tiết tấu và đường nét âm thanh là để phục vụ việc nhận thức cả hai lĩnh vực. Càng được tiếp xúc nhiều với ngôn ngữ, lời nói có vần điệu thì càng tăng khả năng cảm nhận đường nét giai điệu và tiết tấu. Đây cũng là lý do vì sao khi trò chuyện, chơi đùa với trẻ nhỏ, người lớn nên dùng giọng nói cường điệu dành cho trẻ em (child-directed speech).

Âm thuận, âm nghịch

Một trong những điều đáng chú ý nhất là các nghiên cứu còn cho thấy trẻ sơ sinh phân biệt được cả các âm thuận với các âm nghịch. Đây là nền tảng cho những cảm thụ thẩm mỹ về âm nhạc, và khả năng phân biệt những hợp âm hòa hợp hay ngang tai này là tự nhiên trong con người. Thí nghiệm của Schelling và Trainor (1996) thực hiện trên trẻ bảy tháng tuổi cho thấy trẻ có thể phân biệt được hợp âm quãng năm (âm thuận, ví dụ như Do-Sol) với quãng bốn và quãng ba cung (đều là âm nghịch) giống như người lớn. Tiếp theo thí nghiệm này, nhiều nghiên cứu đi sau còn chỉ ra rằng trẻ sơ sinh thể hiện rõ rệt sự thích thú đối với những giai điệu bao gồm nhiều âm thuận hơn (Trainor & Heinmiller, 1998). Như vậy, con người không chỉ sở hữu một số nền tảng cơ bản bẩm sinh để nhận biết âm nhạc mà còn để cảm thụ âm nhạc nữa.

… và những cấp độ nhận thức cao hơn

Khả năng cảm nhận cao độ, đường nét giai điệu, tiết tấu, câu nhạc v.v. đều biểu hiện bẩm sinh ở trẻ nhỏ. Tuy vậy, các yếu tố này mới chỉ là những yếu tố cơ bản nhất trong quá trình cảm nhận âm nhạc. Những nhận thức ở cấp độ cao hơn như về điệu thức (hệ thống phân cấp các âm độ), thang âm (dãy các nốt nhạc được sắp xếp theo các khoảng cách cao độ nhất định), giọng (quy định âm chủ của bản nhạc), hòa âm (hệ thống các hợp âm dùng trong một giọng nhất định) v.v. thông thường không có được ở trẻ nhỏ cho đến khi khoảng năm tuổi. Ví dụ như hầu hết trẻ em dưới năm tuổi không thể hát chuẩn xác trong một giọng ổn định (Krumhansl) hoặc phân biệt các giai điệu dựa vào giọng chủ (Dowling). Trong khi người lớn có thể nghe ra các chuyển biến về hòa âm trong một bản nhạc thì phải đến khoảng bảy tuổi, trẻ mới có khả năng này (Trainor & Trehub, 1994). Như vậy, để phát triển khả năng nhận thức những yếu tố này, trẻ em cần một thời gian nghe và tiếp xúc nhiều với âm nhạc.

Tuy nhiên cũng phải chú ý rằng các yếu tố như điệu thức, giọng, hòa âm đều là những điểm đặc trưng của phong cách âm nhạc phương Tây, nên việc cần được tiếp xúc nhiều với nền văn hóa âm nhạc này để phát triển khả năng nhận thức các yếu tố trên là điều dễ hiểu. Điều đáng nói là, cũng tương tự như khả năng nhận biết tiết tấu, nghiên cứu cho thấy trẻ em giỏi hơn người lớn trong việc cảm nhận các thang âm lạ (các thang âm do người nghiên cứu nghĩ ra để phục vụ cho thí nghiệm chứ không được dùng trong âm nhạc thực tế). Nói cách khác, trẻ em có thể nghe một thang âm lạ mà không thấy nghịch tai như người lớn. Ta có thể liên hệ với hiện tượng tương tự trong khả năng ngôn ngữ: trẻ nhỏ sinh ra có khả năng phân biệt được nhiều loại âm vị (phonemes – các đơn vị âm thanh dùng một ngôn ngữ cụ thể), nhưng khi lớn lên, sau khi đã học được tiếng mẹ đẻ, sẽ mất đi khả năng nhận biết một số âm vị của các ngôn ngữ khác.

Tóm lại, nhiều bằng chứng đã cho thấy loài người sở hữu một số tố chất để có thể lĩnh hội âm nhạc ngay từ khi còn là thai nhi trong bụng mẹ, ví dụ như khả năng nhận biết cao độ, tiết tấu, đường nét giai điệu. Tuy vậy, đây mới chỉ là những yếu tố cơ bản nhất. Như tất cả các kỹ năng nhận thức khác, điển hình là ngôn ngữ, trẻ nhỏ cần phát triển hoàn toàn về mặt sinh học và nhất là được trải nghiệm âm nhạc nhiều để có thể đạt được tối đa khả năng cảm nhận âm nhạc khi trưởng thành. Mặt khác, một số khả năng nhận thức âm nhạc bẩm sinh của con người cũng có thể giảm sút khi ta lớn lên và quen với một nền văn hóa âm nhạc nhất định.

*Bài viết chỉ quan tâm đến khả năng nhận thức chứ không đề cập đến khả năng tạo ra âm nhạc như chơi nhạc cụ, sáng tác; và đối tượng nghiên cứu là người bình thường chứ không phải những trường hợp đặc biệt (thường được gọi là ‘thiên tài’).
Khi bé buồn, bạn hãy ôm bé vào lòng, hát cho bé nghe, nhún nhảy, lắc lư theo điệu nhạc.
Đối với những trẻ sinh non, nếu được nghe nhiều nhạc cổ điển thì nhịp tim sẽ chậm xuống , nhịp thở sẽ ổn định hơn. Điều này chỉ ra rằng, âm nhạc đã giúp các bé giảm bớt stress. Với những bé đang quấy khóc thì khi được nghe nhạc, các bé sẽ được xoa dịu nhanh chóng và vui vẻ hơn. Bé sẽ không quan tâm đến việc bạn có phải là một ca sĩ hay không đâu, bé chỉ cần nghe được giai điêu nhạc từ giọng của mẹ là bé cũng đã thấy ấm lòng lắm rồi.Dưới đây là một vài cách giúp mẹ giới thiệu âm nhạc tới các bé:
Hãy thử hát và cho bé nghe những điệu nhạc khác nhau để xem bé phản ứng lại với từng dòng nhạc như thế nào. Khi bé cảm thấy buồn chán hoặc buồn ngủ, bé sẽ rất thích được mẹ hát ru. Khi bé vui vẻ, bé sẽ rất thích được mẹ đong đưa cùng điệu nhạc pop. Khi bé trở nên trầm tĩnh và yên lặng, thì có thể bé sẽ thích nghe nhạc cổ điển lắm đấy.Khi bé buồn, bạn hãy ôm bé vào lòng, hát cho bé nghe, nhún nhảy, lắc lư theo điệu nhạc. Sự kết hợp giữa tiếp xúc cơ thể, chuyển động và âm nhạc sẽ là một phương thuốc rất tuyệt vời để xoa dịu bé.

Âm nhạc không chỉ tốt cho bé mà còn giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn nhiều đấy.
Bạn cũng có thể tận dụng âm nhạc để báo cho bé biết mẹ sắp sửa làm gì cũng như tạo lập các thói quen cho bé:- Cho bé nghe những đoạn nhạc du dương khi chuẩn bị mát xa cho bé- Hát ru cho bé mỗi tối, trước khi cho bé ngủ- Khi chuẩn bị thay bỉm cho bé, bạn hãy cho bé nghe tiếng chuông điện thoại di động của mình- Cho bé nghe bài hát ưa thích của mẹ mỗi khi chuẩn bị cho bé ăn.Mẹ cũng hãy tận hưởng âm nhạc cùng với bé nhé. Âm nhạc không chỉ tốt cho bé mà còn giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn nhiều đấy.

Thái độ học tập và cách tiếp cận theo phương pháp Glenn Doman

Thái độ học tập và cách tiếp cận theo phương pháp Glenn Doman
- Vui vẻ nhiệt tình, khi dạy trẻ nên tiếp cận và biến phương pháp thành trò chơi hấp dẫn, tuyệt vời.
- Giảng dạy cho bé khi bạn cảm thấy thoải mái, trước khi dạy nên thở sâu, trút hết gánh nặng để bước vào bài dạy. Tốt nhất khi dạy bé ,bé phải thoải mái và vui cười. Đó là lúc thích hợp nhất giúp bé tập trung hơn và làm tình cảm giữa cha mẹ và bé sâu sắc hơn.
- Khoảng thời gian cho việc học tốt nhất là từ 3s đến 5s cho một bài gồm 5 từ, hay cụm từ,..
- Khi dạy bé luôn luôn vui vẻ với bé và dừng lại trước khi trẻ không muốn học. Bạn phải vừa dạy quan sát thái độ của bé. Tránh trường hợp cố tình dạy khi bé không thích. Nếu như bạn cố tình dạy khi bé không có hứng thú, chỉ vài lần như thế bé sẽ tránh lé, không muốn học. Như vậy gây khó khăn cho bạn trong quá trình dạy bảo tiếp theo và sau này. Đó cũng là sự khác nhau giữa giáo dục sớm và học sớm.
- Giới thiệu học liệu mới khi con bạn đã cảm thấy sẵn sàng. Bạn dạy con theo một logic và trật tự, tránh trộn các đề tài học liệu khác nhau vào cùng một bài học.

- Kích thước là một vấn đề quan trọng giúp bạn thành công. Về học liệu chất lượng ,kích cỡ phải đạt tiêu chuẩn quốc tế . Bố mẹ có thể mua tại công ty CPDT giáo dục sớm G.Ks công ty có bản quyền Glenn doman duy nhất Việt Nam do viện thành tựu tiềm năng con người Hoa Kỳ IAHP chứng nhận (Tránh mua phải học liệu giả bên ngoài làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc giáo dục sớm của bé cũng như có thể gây ra phản tác dụng với phương pháp)
- Chuyển đổi thẻ một cách linh hoạt, đọc phát âm tránh nhầm lẫn và sai chính tả, thực hiện chuyển đổi từ câu ngắn đến câu dài trong một thời điểm khi bé đã sẵn sàng.
Kích cỡ học liệu cho bố mẹ tham khảo : Sơ cấp 55-13 cm, trung cấp 55-11 cm, cao cấp 55-9 cm ,Lớn 28 x 28 cm. Chương trình dạy : Từ sau ra trước
Bạn dạy con theo một logic và trật tự, tránh trộn các đề tài học liệu khác nhau vào cùng một bài học.