Tìm hiểu về trí thông minh vận động

Trí thông minh vận động là gì?

Trí thông minh vận động cơ thể (hay còn gọi là bodily – kinesthetic, body smart) có nghĩa là bạn học và suy nghĩ thông qua cơ thể, sử dụng cơ thể để biểu lộ bản thân hay các kỹ năng của mình. Bạn luôn cảm thấy thoải mái với cơ thể mình. Có thể bạn là một vận động viên, một bác sỹ phẫu thuật, hoặc bạn dùng cơ thể để nhảy múa và diễn xuất đầy khéo léo. Hoặc bạn có nhiều hứng thú hơn với việc dùng đôi tay để tiến hành các hoạt động như thủ công, điêu khắc, kiến trúc, cơ học hay sửa đồ vật. Bạn cũng có thể thể hiện trí thông minh này thông qua việc đá bóng giỏi, đan len hay may vá dễ dàng, nặn tượng bằng đất sét, diễn kịch tinh tế, biểu diễn ảo thuật, sửa các đồ vật bị hỏng trong nhà.

Mọi người thường nghĩ rằng trí thông minh vận động cơ thể không phải là một loại hình thông minh. Bạn cho rằng cơ thể và trí óc làm những việc rất khác nhau. Suy cho cùng, bạn tiến hành các hoạt động bằng cơ thể, còn học tập và suy nghĩ thì bằng đầu óc. Cơ thể dường như chỉ đi bộ, leo trèo, cúi lên cúi xuống, vươn vai, v.v… Điều đó có đúng không? Thực ra chỉ đúng một phần. Tuy nhiên, bằng cách nào mà cơ thể làm được những việc này? Đó chính là thông qua những chỉ dẫn từ não bộ.

Bạn sử dụng nhiều phần khác nhau của bộ não để di chuyển, chạy, nhảy múa, xây dựng mô hình, chơi thể thao, thắt nơ, tung hứng, đi bộ hay bất cứ loại vận động nào. Mỗi vận động đều cần đến sự phối hợp nhanh chóng và tỉ mỉ của vô số các dây thần kinh, cơ, khớp và các phần khác nữa. Nếu buộc phải chỉ riêng cho từng bộ phận của cơ thể phải di chuyển như thế nào, chắc chắn bạn sẽ mất hàng tuần mới ra được khỏi giường vào buổi sáng. Não bộ đưa ra mệnh lệnh cho cơ thể rất nhanh, do đó việc di chuyển, cử động chỉ mất vài giây chứ không phải hàng tuần. Cơ thể biết phải làm gì khi bạn muốn nó làm điều đó (và làm rất nhanh!) – có nghĩa là cơ thể của bạn khá thông minh!

Những người sở hữu trí thông minh này có cảm nhận tốt về sự cân bằng và phối hợp tốt giữa mắt và bàn tay. Họ thường có hứng thú với các hoạt động như đi bộ, thể dục, thể thao, khiêu vũ, cắm trại, bơi lội. Trong học tập và làm việc họ muốn cơ thể được vận động thay vì chỉ đọc và nghe hướng dẫn hay ngồi nghiên cứu một chỗ quá lâu.

Nghề nghiệp phù hợp với những bạn có trí thông minh vận động thường là: Vận động viên thể thao, võ thuật, thể dục thể hình, huấn luyện viên, giáo viên giáo dục thể chất, vũ công, diễn viên, người mẫu, ảo thuật gia, cảnh sát, sỹ quan quân đội, bác sỹ phẫu thuật, bác sỹ, thợ chế tác mỹ nghệ, trang sức, thợ thủ công, thợ mộc, chế tác đồ gia dụng.

Tập chơi các môn thể thao là phương pháp hữu hiệu để nâng cao năng lực vận động cơ thể, đặc biệt là với trẻ em. Hầu như môn thể thao nào cũng tốt cả nên bạn hãy chọn cho mình một môn thể thao phù hợp với điều kiện của bạn. Việc tập luyện thể thao không những giúp bạn tăng cường sức khỏe thể chất và tinh thần, giải tỏa sự căng thẳng mà còn nâng cao khả năng phối hợp hài hòa giữa các bộ phận trên cơ thể như mắt, chân, tay, não. Đăng ký một lớp học võ thuật, một môn thể thao, earobic, khóa học khiêu vũ hay một lớp kịch hoặc lớp diễn xuất sẽ giúp bạn tập luyện một cách hiệu quả hơn.

Đây cũng là một sai lầm tai hại của nền giáo dục của ta hiện nay. Khi các môn học về thể dục, giáo dục thể chất là môn phụ.
Tôi không biết nguyên nhân từ đâu và lý do gì khiến môn học này là môn phụ. Phải chăng chúng ta coi trọng các môn lý thuyết mang tính sách vở và học thuật. Một sai lầm lớn !
Bạn có biết các siêu sao bóng đá có mức thu nhập thế nào không ? Mức chuyển nhượng cầu thủ có giá bao nhiêu
Mức lương của các siêu sao như C Ronaldo làm bao nhiêu không : 15 triệu Euro/mùa
Giá chuyển nhượng là : 118 triệu Euro
Đó là người đứng thứ nhì, còn người đứng đầu là bao nhiêu :
Giá chuyển nhượng : 217 triệu Euro
Lương : 12 triệu Euro/năm

Những đặc điểm của người có trí thông minh vận động

Ngoài các siêu sao bóng đá, các siêu sao khác trong lĩnh vực quần vợt như chị em nhà William, Tầu tốc hành Federel, Hay tia chớp Usabol, đều có thể kiếm cả triệu đô trong một thời gian cực ngắn. Khi mà những người thuộc trí thông minh như toán học, logic, không gian…. phải mất cả đời mới kiếm được số tiền 1 triệu USD
Vậy bạn thử xem minh có may mắn nằm trong trí thông minh này không nhé
Câu 1 : Tôi yêu thích thể thao, thích chơi thể thao. Khi tôi chơi thể thao tôi cảm thấy hạnh phúc
Câu 2 : Tôi có một môn thể thao ưa thích và thường xuyên chơi
Câu 3 : Tôi khó có thể ngồi im một chỗ trong thời gian dài
Câu 4 : Tôi thích học khi vận động
Câu 5 : Khi vận động và chơi thể thao tôi thấy mình nghĩ ra được nhiều ý tưởng hay
Câu 6 : Tôi thích dùng thời gian rảnh của mình để dạo chơi bên ngoài
Câu 7 : Tôi thích các công việc bằng tay như chạm khắc, thêu thùa, hoặc thiết kế mẫu

Câu 8: Tôi thích chạm vào đồ vật khi khám phá nó, khi giao tiếp tôi thích chạm vào người khác
Câu 9: Tôi có khả năng vận động cơ thể tốt cũng như tôi có khả năng phối hợp nhịp nhàng với người khác
Câu 10 : Tôi thích tham gia vào vận động để trải nghiệm hơn là chỉ đọc sách hoặc xem băng hình
Câu 11 : Tôi thích các trò chơi mạo hiểm, liều lĩnh hoặc tham giam vào hoạt động cơ thể đem lại cảm giác mạnh
Câu 12 : Tôi nói chậm và nhịp điệu từ tốn, đôi khi việc này khiến người khác nói tôi phải nói nhanh hơn
Câu 13 : Trong ngôn từ tôi thích dùng những từ như cảm thấy, cảm giác, để mô tả sự vật cũng như hiểu biết của minh : Ví dụ : Bạn sẽ nói : ” Tôi cảm thấy sự việc không được rõ ràng ” Trái ngược với bạn là kiểu người nói : ” Tôi nhìn thấy mọi việc không sáng sủa ”
Câu 14 : Trong tình cảm bạn thích ôm ấp, hơn là khen tặng người khác những từ có cánh như nhóm người ngôn ngữ hay những quà tặng độc đáo như nhóm người thiên về hình ảnh và không gian
Câu 15 : Bạn không thích đọc và xem phim bằng các hoạt động thể thao
Cách phát huy trí thông minh vận động
Trí thông minh cơ thể-vận động (Bodily-Kinesthetic) là một trong 8 loại hình trí thông minh của mỗi con người theo thuyết “Đa trí thông minh” nổi tiếng của Tiến sĩ Howard Gardner, ĐH Harvard (Mỹ).
Theo đó, nếu ngay từ khi còn nhỏ trẻ được vận động và luyện tập những môn thể thao phù hợp sẽ giúp ích rất nhiều trong việc phát triển trí não và duy trì sức khỏe.

Giai đoạn từ 2,5 đến 3 tuổi

Chơi thể thao, vận động thể chất với các bạn nhỏ lứa tuổi 2,5 đến 3 chủ yếu hướng đến mục tiêu tạo lập một môi trường vui vẻ, mang tính đồng đội và không cạnh tranh để trẻ vui chơi. Các khái niệm về vận động hay thể thao sẽ được giới thiệu một cách đơn giản, thường có thể phối hợp với âm nhạc để thu hút trẻ. Các hoạt động thể chất nên diễn ra vào các buổi sáng (khoảng thời gian từ 8 đến 12 giờ) và tổ chức trong một khoảng thời gian vừa phải để duy trì được sự tập trung cho trẻ. Trẻ ở độ tuổi này sẽ được tập trung phát triển các kỹ năng vận động thô, kỹ năng lắng nghe, học cách chờ đợi và làm theo chỉ dẫn. Bố mẹ nên tham gia chơi và tập luyện cùng con để giúp bé làm quen, thực hiện các động tác tự tin và chính xác hơn.

Giai đoạn từ 3 đến 5 tuổi

Trẻ lứa tuổi này rất thích tự làm mọi việc và đặc biệt thích thể hiện bản thân, vì thế nên khuyến khích các con hoạt động độc lập trong các hoạt động thể thao. Các mục tiêu với vận động thể chất nhóm tuổi 3 đến 5 sẽ tập trung phát triển nhiều hơn vào các kỹ năng vận động thô (thông qua cả các hoạt động vận động và hoạt động tĩnh), các kỹ năng vận động tinh (thông qua các hoạt động phối hợp (tay – mắt, chân – mắt) cũng như khả năng thăng bằng, tư thế cơ thể. Bố mẹ có thể lần lượt giới thiệu với con các môn thể thao để duy trì cảm hứng tập luyện của trẻ, nên tổ chức hoạt động vui chơi thể thao của trẻ trong khoảng thời gian 45 phút là phù hợp. Tuy đã có thể vui chơi độc lập nhưng nếu con cần sự hỗ trợ của bố mẹ hãy cứ sẵn sàng cùng tham gia với con, đó cũng là một cách tận hưởng thời gian bên con và cùng con chia sẻ niềm vui rất tuyệt.

Giai đoạn từ 5 đến 7 tuổi

Trẻ nhóm tuổi 5 đến 7 sẽ có thể tham gia và học tập thể thao ở một trình độ cao hơn với nhiều hoạt động thử thách hơn. Thời gian này trẻ sẽ được tinh chỉnh các kỹ năng hiện có và có thêm cơ hội để hiểu biết sâu sắc hơn về các môn thể thao bao gồm trong chương trình. Chương trình học sẽ giúp trẻ tự tin vào khả năng của mình, có thái độ tích cực, chủ động và khỏ mạnh hơn. Đó cũng là các yếu tố cực kì cần thiết để giúp trẻ tự tin bước vào lớp 1, có thể sẵn sàng để tham gia tích cực vào nhiều môn thể thao trong trường tiểu học và hơn thế nữa.

Trẻ có thể làm quen, rèn luyện và phát triển tất cả các kĩ năng này trong chương trình học của Ready Steady Go Kids. Đây là chương trình thể dục thể thao phối hợp dành cho lứa tuổi mầm non lớn nhất và uy tín hàng đầu nước Úc. Ra đời từ năm 2004, hiện Ready Steady Go Kids đang tổ chức các lớp học thể chất cho trẻ em trên toàn nước Úc. Các hoạt động thể thao chất lượng cao được thiết kế nhằm dạy cho trẻ nguyên tắc cơ bản của 10 môn thể thao khác nhau trong một môi trường vui vẻ mang tính xã hội cao với tinh thần hỗ trợ và không cạnh tranh.

8 Loại hình thông minh theo thuyết đa thông minh của Howard Garner

Howard Garner là ai?

Howard Earl Gardner (sinh ngày 11 tháng 7 năm 1943) là một nhà tâm lý học phát triển của Mỹ và John H. và Elisabeth A. Hobbs Giáo sư nhận thức và Giáo dục tại Đại học Harvard Graduate School of Education tại Đại học Harvard. Ông là Giám đốc cao cấp của Đại học Harvard Project Zero, và từ năm 1995, ông đã được các đồng giám đốc của dự án tốt.

Gardner là người nhận giải MacArthur Fellowship năm 1981 và năm 1990 ông trở thành người Mỹ đầu tiên nhận được giải thưởng của Đại học Louisville Grawemeyer trong giáo dục. Năm 2000, ông nhận được học bổng từ John S. Guggenheim Memorial Foundation. Bốn năm sau, ông được bổ nhiệm làm giáo sư danh dự tại Đại học East China Normal ở Thượng Hải. Trong những năm 2005 và 2008, ông đã được lựa chọn bởi chính sách đối ngoại và tạp chí Prospect là một trong 100 trí thức công chúng có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Năm 2011, anh đã giành được giải thưởng Prince of Asturias trong khoa học xã hội cho sự phát triển của lý thuyết đa trí thông minh.

Ông đã nhận được bằng danh dự 20-9 trường cao đẳng và các trường đại học, bao gồm cả các tổ chức ở Bulgaria, Canada, Chile, Hy Lạp, Ireland, Israel, Italy, và Hàn Quốc.

Các tác giả của hơn hai mươi cuốn sách dịch ra hơn ba mươi ngôn ngữ, ông được biết đến với lý thuyết của ông về đa trí tuệ, như được nêu trong cuốn sách Frames of Mind: Lý thuyết Đa trí tuệ (1983).

9 loai hinh thong minh

8 Loại hình thông minh của Howard Garner là gì

1. TRÍ THÔNG MINH NGÔN NGỮ.
Trẻ có thể học tập thông qua ngôn ngữ / lời nói
- Nhạy cảm với ngữ nghĩa, nhịp điệu, âm thanh của các từ
- Bé thích thú với việc kể chuyện và viết lách.
- Thích đọc, thơ ca, truyện cười và thích thú khi chơi với các trò đố chữ, giải đáp các câu đố.
http://suckhoeembe.com/tri-thong-minh-ngon-ngu-vuot-troi-thi-hop-voi-nghe-nao/
2/ TRÍ THÔNG MINH SUY LUẬN – TƯ DUY
Trẻ có thể học tập thông qua phân tích logic / toán học (logical)
Thích chơi các trò chơi liên quan đến các con số, trò chơi ghép hình, làm các thử nghiệm.
Có kỹ năng lập luận tốt và biết đặt các câu hỏi có tính logic.
Thích các trật tự và những chỉ dẫn tuần tự từng bước.

3/ TRÍ THÔNG MINH KHÔNG GIAN – THỊ GIÁC.
Trẻ có thể học tập thông qua thị giác / hình ảnh (visual)
Thích tạo ra các hoa văn, hình vẽ và cần có sự kích thích về thị giác
Hay mơ mộng
Có năng khiếu về nghệ thuật

4/ TRÍ THÔNG MINH ÂM NHẠC – THÍNH GIÁC
Bé là người có thể học tập thông qua âm nhạc (musical)
Thích chơi các nhạc cụ, thích hát hò, gõ trống
Thích các âm thanh như giọng nói, âm thanh tự nhiên, âm thanh từ nhạc cụ
Học dễ dàng hơn nếu có bật nhạc hoặc có các vật gì đó gõ nhịp, nhớ bài học tốt hơn nếu được nghe và được học bằng việc đọc thành lời.

5/ TRÍ THÔNG MINH VẬN ĐỘNG – XÚC GIÁC
Trẻ có thể học tập thông qua vận động (physical)
- Bé khỏe mạnh và năng động.
- Thích đóng kịch, khiêu vũ, thể hiện bản thân với những hành động và chuyển động của cơ thể.
- Học tập thông qua các chuyển động của cơ thể và thông qua việc chạm vào và cảm giác về sự vật.
- Sử dụng các chuyển động, cử chỉ, điệu bộ và các biểu hiện cơ thể để học hỏi và giải quyết vấn đề.
Gợi ý cho các bậc cha mẹ
- Cho trẻ tham gia vào các hoạt động khiêu vũ, đóng kịch, thể thao.
- Cung cấp các hoạt động thực nghiệm lôi cuốn.
- Đi bộ, chạy bộ, chơi tennis, đạp xe,…cùng gia đình.
- Giáo viên thể dục có thể nhờ trẻ làm các động tác thể dục mẫu cho cả lớp.

6/ TRÍ THÔNG MINH TƯƠNG TÁC
Trẻ có thể học tập thông qua hoạt động hướng ngoại (extrovert)
- Trẻ là người thích giao tiếp xã hội.
- Có thể “đọc” được các cảm xúc và cách cư xử của người khác.
- Là nhà lãnh đạo xuất sắc và thích tham gia đội nhóm.
- Có thể giúp đỡ bạn cùng tuổi và làm việc hợp tác với những người khác.

7/ TRÍ THÔNG MINH NỘI TÂM
Trẻ có thể học tập thông qua hoạt động hướng nội (introvert)
- Thích làm việc độc lập
- Biết tự động viên, khuyến khích bản thân và thích các hoạt động một mình.
- Thường tách ra và không đi theo xu hướng của đám đông.
- Có khả năng hiểu cảm xúc, động lực và tâm trạng của mình.

8/ TRÍ THÔNG MINH TỰ NHIÊN
Trẻ có thể học tập thông qua hoạt động thực tế (existential).
- Thích quan sát, tò mò về các hiện tượng xung quanh
- Thích thử nghiệm các hoạt động mới mẻ.
- Có khả năng thích ứng tốt với những môi trường khác nhau

Chức năng quản lý của não bộ là gì?

Quản lý là gì?
Động từ “quản lý” đến từ maneggiare Ý (để xử lý, đặc biệt là các công cụ), trong đó có nguồn gốc từ chữ Latin manus (tay). Từ mesnagement Pháp (sau này Menagement) ảnh hưởng đến sự phát triển trong ý nghĩa của công tác quản lý từ tiếng Anh trong các thế kỷ 17 và 18. [1]
Định nghĩa

Quan điểm về định nghĩa và phạm vi quản lý bao gồm:

Quản lý được định nghĩa là các tổ chức và điều phối các hoạt động của doanh nghiệp phù hợp với chính sách nhất định và đạt được các mục tiêu xác định rõ ràng
Fredmund Malik định nghĩa là quản lý là việc chuyển đổi các nguồn lực vào tiện ích.
Quản lý bao gồm như là một trong những yếu tố sản xuất – cùng với máy móc, nguyên vật liệu và tiền bạc
Peter Drucker (1909-2005) thấy nhiệm vụ cơ bản của một quản lý là gồm hai phần: tiếp thị và đổi mới. Tuy nhiên, đổi mới cũng liên quan đến tiếp thị (đổi mới sản phẩm là một vấn đề chiến lược tiếp thị trung tâm). Peter Drucker xác định tiếp thị như là một chất quan trọng cho sự thành công kinh doanh, nhưng quản lý và tiếp thị thường được hiểu [ai?] Là hai ngành khác nhau của kiến thức quản trị kinh doanh.
Andreas Kaplan đặc biệt định nghĩa Quản lý châu Âu như là một phương pháp quản lý xã hội đa văn hóa dựa trên các nguyên tắc liên ngành. [2]
Giám đốc và các nhà quản lý cần phải có những quyền hạn và trách nhiệm đưa ra quyết định chỉ đạo một doanh nghiệp khi trao quyền [cần dẫn nguồn]
Là một kỷ luật, quản lý bao gồm các chức năng lồng vào nhau xây dựng chính sách của công ty và tổ chức, lập kế hoạch, kiểm soát và chỉ đạo các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu của chính sách
Kích thước của quản lý có thể từ một người trong một công ty nhỏ đến hàng trăm hoặc hàng ngàn nhà quản lý trong các công ty đa quốc gia.
Trong các công ty lớn, ban giám đốc công thức hoá các chính sách mà chính cụ đốc điều hành. [3]

phạm vi lý thuyết

Chức năng quản lý của não bộ liên quan đến các thao tác của nguồn nhân lực của doanh nghiệp để đóng góp vào sự thành công của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa giao tiếp hiệu quả: môi trường doanh nghiệp (như trái ngược với một cơ chế về thể chất hoặc cơ khí), có nghĩa động lực của con người và hàm ý một số loại tiến bộ thành công hoặc kết quả của hệ thống. Như vậy, quản lý không phải là các thao tác của một cơ chế (máy hoặc chương trình tự động), không phải là chăn gia súc động vật, và có thể xảy ra ở cả hai một doanh nghiệp hợp pháp cũng như bất hợp pháp hoặc môi trường. Trên cơ sở này, quản lý phải có con người, truyền thông, và một nỗ lực doanh nghiệp tích cực. Kế hoạch, đo lường, công cụ tâm lý động lực, mục tiêu và các biện pháp kinh tế (lợi nhuận, vv) có thể có hoặc có thể không có các thành phần cần thiết để có được quản lý. Lúc đầu, một quản lý quan chức năng, chẳng hạn như đo số lượng, điều chỉnh kế hoạch, mục tiêu của cuộc họp. Điều này áp dụng ngay cả trong trường hợp kế hoạch không diễn ra. Từ quan điểm này, Henri Fayol (1841-1925) [4] xem xét quản lý bao gồm sáu chức năng:

Dự báo
Kế hoạch
tổ chức
chỉ huy
phối hợp
Kiểm soát

Henri Fayol là một trong những người đóng góp có ảnh hưởng nhất đến các khái niệm hiện đại về quản lý. [Cần dẫn nguồn]

Trong một cách suy nghĩ, Mary Parker Follett (1868-1933), được định nghĩa quản lý là “nghệ thuật nhận được những điều thực hiện thông qua người”. Cô mô tả như là triết lý quản lý. [5]

Các nhà phê bình, tuy nhiên, tìm thấy định nghĩa này hữu ích, nhưng quá hẹp. Cụm từ “quản lý là những gì các nhà quản lý làm” xảy ra rộng rãi, cho thấy khó khăn trong việc xác định quản lý, bản chất thay đổi của các định nghĩa và kết nối các thực hành quản lý với sự tồn tại của một cán bộ quản lý hoặc lớp học.

Quản lý khác với quản trị kinh doanh như thế nào

Một thói quen của tư tưởng quản lý liên quan như tương đương với “quản trị kinh doanh” và do đó không bao gồm quản lý ở những nơi bên ngoài thương mại, ví dụ như trong tổ chức từ thiện và trong khu vực công. Nói rộng hơn, mọi tổ chức phải quản lý của công việc, con người, quy trình, công nghệ, vv để tối đa hóa hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều người đề cập đến khoa trường đại học dạy về quản lý là “trường kinh doanh”. Một số tổ chức (như Trường Kinh doanh Harvard) sử dụng tên trong khi những người khác (chẳng hạn như các trường quản lý Yale) sử dụng thuật ngữ toàn diện hơn “quản lý”.

Người nói tiếng Anh cũng có thể sử dụng thuật ngữ “quản lý” hoặc “quản lý” như một từ tập thể mô tả các nhà quản lý của một tổ chức, ví dụ một công ty. Trong lịch sử này sử dụng thuật ngữ này thường trái ngược với thuật ngữ “lao động” – đề cập đến những người đang quản lý.
Bản chất của công tác quản lý

Trong phi lợi nhuận làm việc, quản lý có chức năng chính của nó là sự hài lòng của các bên liên quan. Điều này thường liên quan đến việc tạo ra lợi nhuận (đối với cổ đông), tạo ra sản phẩm có giá trị với chi phí hợp lý (cho khách hàng), và cung cấp cơ hội việc làm bổ ích cho người lao động. Trong quản lý phi lợi nhuận, thêm tầm quan trọng của việc giữ đức tin của các nhà tài trợ. Trong hầu hết các mô hình quản lý và quản trị, các cổ đông bỏ phiếu cho ban giám đốc và hội đồng quản trị sau đó thuê quản lý cấp cao. Một số tổ chức đã thử nghiệm với các phương pháp khác (ví dụ như mô hình nhân viên có quyền biểu quyết) lựa chọn hoặc xem xét các nhà quản lý, nhưng điều này là rất hiếm.
Chức năng quản lý là gì (ngón cái tay phải)
Trong khu vực công của các quốc gia thành lập như là nền dân chủ đại diện, các cử tri bầu chính trị gia đến văn phòng công cộng. Các chính trị gia này thuê nhiều nhà quản lý và quản trị, và ở một số nước như Hoa Kỳ bổ nhiệm chính trị bị mất việc làm về bầu cử tổng thống mới / đốc / trưởng.
Lịch sử phát triển
Định nghĩa lại Chức năng quản lý của não bộ
Một số người xem quản lý (theo định nghĩa) như cuối hiện đại (theo nghĩa hiện đại cuối) khái niệm. Trên những điều khoản đó không thể có một lịch sử tiền hiện đại, chỉ có báo hiệu (như người quản lý). Những người khác, tuy nhiên, phát hiện quản lý-như-nghĩ lại cho thương nhân Sumer và những người xây dựng các kim tự tháp của Ai Cập cổ đại. Nô lệ chủ sở hữu qua nhiều thế kỷ phải đối mặt với các vấn đề về khai thác / thúc đẩy một lực lượng lao động phụ thuộc nhưng đôi khi hững hờ hoặc ngoan cố, nhưng nhiều doanh nghiệp kỳ tiền công nghiệp, với quy mô nhỏ, không cảm thấy bắt buộc phải đối mặt với các vấn đề về quản lý hệ thống. Tuy nhiên, các sáng kiến ​​như sự lây lan của Hindu-Ả Rập chữ số (thứ 5 đến thế kỷ 15) và hệ thống hóa của hai ghi sổ kế toán (1494) cung cấp các công cụ để đánh giá quản lý, lập kế hoạch và kiểm soát.

Với sự thay đổi nơi làm việc của cuộc cách mạng công nghiệp trong thế kỷ 18 và 19, lý thuyết và thực hành phương pháp tiếp cận quân sự góp phần để quản lý các nhà máy mới được phổ biến. [6]

Với quy mô của hầu hết các hoạt động thương mại và thiếu cơ lưu giữ hồ sơ và ghi âm trước khi cuộc cách mạng công nghiệp, nó có ý nghĩa đối với hầu hết các chủ sở hữu của các doanh nghiệp trong những thời điểm để thực hiện chức năng quản lý bởi và cho chính họ. Nhưng với kích thước ngày càng tăng và phức tạp của các tổ chức, sự phân chia giữa chủ sở hữu (cá nhân, các triều đại công nghiệp hoặc nhóm cổ đông) và ngày này qua ngày khác quản lý (chuyên gia độc lập trong việc hoạch định và kiểm soát) dần dần trở nên phổ biến hơn.
viết sớm

Trong khi não bộ quản lý (theo một số định nghĩa) đã tồn tại hàng nghìn năm, một số nhà văn đã tạo ra một nền tảng của những công trình hỗ trợ trong các lý thuyết quản lý hiện đại.

Một số văn bản quân sự cổ xưa đã được trích dẫn cho bài học mà các nhà quản lý dân sự có thể thu thập. Ví dụ, Trung Quốc nói chung Tôn Tử trong thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, The Art of War, đề nghị được nhận thức và hành động mạnh và điểm yếu của tổ chức quản lý của cả một và một kẻ thù của.

Nền văn minh cổ đại và trung cổ khác nhau đã sản xuất “gương cho hoàng tử” cuốn sách, nhằm mục đích tư vấn cho quốc vương mới về cách cai trị. Ví dụ như Arthashastra Ấn Độ bởi Chanakya (viết khoảng 300BC), và Hoàng tử của tác giả Ý Niccolò Machiavelli (c. 1515).

Viết vào năm 1776 bởi Adam Smith, một nhà triết học đạo đức Scotland, The Wealth of Nations thảo luận tổ chức làm việc hiệu quả thông qua phân công lao động. [8] Smith mô tả những thay đổi trong các quy trình có thể tăng năng suất trong sản xuất chân. Trong khi cá nhân có thể sản xuất 200 chân mỗi ngày, Smith phân tích các bước liên quan đến sản xuất và, với 10 chuyên gia, sản xuất cho phép 48.000 chân mỗi ngày.
thế kỷ 19

Nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith (1723-1790) và John Stuart Mill (1806-1873) cung cấp một nền tảng lý thuyết để phân bổ tài nguyên, sản xuất, và các vấn đề giá cả. Trong cùng thời gian, sáng tạo như Eli Whitney (1765-1825), James Watt (1736-1819), và Matthew Boulton (1728-1809) phát triển các yếu tố của sản xuất kỹ thuật như tiêu chuẩn, thủ tục kiểm soát chất lượng, chi phí kế toán, hoán đổi các bộ phận, và việc lập kế hoạch. Nhiều người trong số các khía cạnh của quản lý tồn tại trong lĩnh vực nô lệ dựa trên trước năm 1861 của nền kinh tế Mỹ. Môi trường đó đã nhìn thấy 4 triệu người, như các tập quán hiện đại đã có nó, “quản lý” trong lợi nhuận sản xuất bán hàng loạt.

Quản lý công ăn lương như là một nhóm mang tính đầu tiên trở nên nổi bật trong những năm cuối thế kỷ 19. [9]
thế kỷ 20
Học cách quản lý của người Nhật
Khoảng 1900 người ta tìm thấy các nhà quản lý cố gắng để đặt lý thuyết của họ về những gì họ coi là một cơ sở khoa học hoàn toàn (xem tính khoa học của các hạn chế nhận thức của niềm tin này). Ví dụ như Khoa học Henry R. Towne của quản lý trong năm 1890, Frederick Winslow Taylor là Các nguyên tắc của quản lý khoa học (1911), Frank và nghiên cứu ứng dụng chuyển động của Lillian Gilbreth (1917), và bảng xếp hạng của Henry L. Gantt (năm 1910). J. Duncan đã viết trường đại học quản lý-sách giáo khoa đầu tiên trong năm 1911 Năm 1912 Yoichi Ueno giới thiệu Taylor đến Nhật Bản và trở thành nhà tư vấn quản lý đầu tiên của “phong cách Nhật Bản quản lý”. Con trai của ông Ichiro Ueno đi tiên phong đảm bảo chất lượng Nhật Bản.

Các lý thuyết toàn diện đầu tiên về quản lý xuất hiện vào khoảng năm 1920. Harvard Business School cung cấp các Thạc sĩ đầu tiên sỹ Quản trị Kinh doanh (MBA) vào năm 1921. Những người như Henri Fayol (1841-1925) và Alexander Giáo Hội được mô tả các ngành khác nhau của quản lý và tế của họ mối quan hệ. Trong những năm đầu thế kỷ 20, những người như Ordway Tead (1891-1973), Walter Scott và J. Mooney áp dụng các nguyên tắc của tâm lý học quản lý. Những nhà văn khác, chẳng hạn như Elton Mayo (1880-1949), Mary Parker Follett (1868-1933), Chester Barnard (1886-1961), Max Weber (1864-1920, người đã nhìn thấy những gì ông gọi là “quản trị” như quan chức [10 ]), Rensis Likert (1903-1981), và Chris Argyris (* 1923) tiếp cận hiện tượng quản lý từ góc độ xã hội học.

Peter Drucker (1909-2005) đã viết một trong những cuốn sách đầu tiên về quản lý áp dụng: Khái niệm của Tổng công ty (xuất bản năm 1946). Nó là kết quả của Alfred Sloan (Chủ tịch của General Motors cho đến năm 1956) vận hành một nghiên cứu của tổ chức. Drucker đã đi vào để viết 39 cuốn sách, nhiều người trong bối cảnh đó.

H. Dodge, Ronald Fisher (1890-1962), và Thornton C. Fry giới thiệu kỹ thuật thống kê vào quản lý, nghiên cứu. Trong những năm 1940, Patrick Blackett làm việc trong sự phát triển của khoa học ứng dụng, toán học của hoạt động nghiên cứu, ban đầu cho các hoạt động quân sự. Hoạt động nghiên cứu, đôi khi được gọi là “khoa học quản lý” (nhưng khác với quản lý khoa học của Taylor), cố gắng để có một cách tiếp cận khoa học để giải quyết vấn đề ra quyết định, và có thể áp dụng trực tiếp đến nhiều vấn đề quản lý, đặc biệt là trong các lĩnh vực hậu cần và các hoạt động.

Một số trong những phát triển gần đây bao gồm Lý thuyết của hạn chế, quản lý theo mục tiêu, tái cấu trúc, Six Sigma và nhiều lý thuyết công nghệ thông tin theo định hướng như phát triển phần mềm linh hoạt, cũng như lý thuyết nhóm quản lý như Ladder Cog của.

Khi công nhận chung của các nhà quản lý như là một lớp kiên cố hóa trong thế kỷ 20 và đã cho các học viên nhận thức của nghệ thuật / khoa học quản lý một số tiền nhất định uy tín, vì vậy cách mở cho các hệ thống phổ cập của những ý tưởng quản lý để rao bán sản phẩm của họ. Trong bối cảnh này nhiều mốt nhất thời quản lý có thể có nhiều hơn để làm với tâm lý pop hơn so với lý thuyết khoa học quản lý.

Đến cuối thế kỷ 20, quản lý kinh doanh đến bao gồm sáu chi nhánh riêng biệt, [cần dẫn nguồn] cụ thể là:

Cuộc đời và sự nghiệp của Walt Disney

Walter Elias “Walt” Disney được sinh ra vào ngày 05 tháng 12 năm 1901, trong Hermosa, Illinois. Ông và anh trai của mình, Roy đồng sáng lập Walt Disney Productions, mà đã trở thành một trong những công ty sản xuất chuyển động hình ảnh nổi tiếng nhất trên thế giới. Disney là một phim hoạt hình sáng tạo và tạo ra các nhân vật hoạt hình Mickey Mouse. Ông đã giành được 22 giải Oscar trong suốt cuộc đời của mình, và là người sáng lập của công viên giải trí Disneyland và Walt Disney World.
Cuộc sống ban đầu

Walter Elias “Walt” Disney được sinh ra vào ngày 05 tháng 12 năm 1901, trong phần Hermosa của Chicago, Illinois. Cha ông là Elias Disney, một Ailen-Canada, và mẹ của ông, Flora Gọi Disney, là Đức-Mỹ. Disney là một trong năm người con, bốn chàng trai và một cô gái. Ông sống phần lớn thời thơ ấu của mình ở Marceline, Missouri, nơi ông bắt đầu vẽ tranh và bán tranh với hàng xóm và bạn bè của gia đình. Năm 1911, gia đình ông chuyển đến thành phố Kansas, nơi Disney đã phát triển một tình yêu dành cho tàu hỏa. Chú của mình, Mike Martin, là một kỹ sư tàu người đã làm việc các tuyến đường giữa Fort Madison, Iowa, và Marceline. Sau đó, Disney sẽ làm một công việc mùa hè với đường sắt, bán đồ ăn nhẹ và báo cho khách du lịch.

Disney tham gia McKinley High School tại Chicago, nơi ông đã học vẽ và nhiếp ảnh và là một họa sĩ truyện tranh góp phần cho giấy trường. Vào ban đêm, ông đã khóa học tại Học viện Nghệ thuật Chicago. Khi Disney 16 tuổi, ông bỏ học để tham gia quân đội nhưng bị từ chối vì chưa đủ tuổi. Thay vào đó, ông tham gia Hội Chữ thập đỏ và đã được gửi đến Pháp trong một năm lái xe cứu thương.
Phim hoạt hình đầu

Khi Disney trở về từ Pháp vào năm 1919, ông chuyển về Kansas City để theo đuổi sự nghiệp của một nghệ sĩ báo. Anh trai của ông Roy đã nhận anh ta một công việc tại Pesmen-Rubin Art Studio, nơi ông gặp vẽ tranh biếm họa Ubbe Eert Iwwerks, hay còn gọi là Ub Iwerks. Từ đó, Disney đã làm việc tại Công ty rao Kansas City Film, nơi mà ông đã thực hiện quảng cáo dựa trên hình ảnh động bỏ đi. Khoảng thời gian này, Disney bắt đầu thử nghiệm với một máy ảnh, làm phim hoạt hình vẽ tay cel, và quyết định mở doanh nghiệp hoạt hình của riêng mình. Từ các công ty quảng cáo, ông đã tuyển dụng Fred Harman là nhân viên đầu tiên của mình.

Walt và Harman đã thỏa thuận với một nhà hát địa phương Kansas City vào màn hình phim hoạt hình của họ, mà họ gọi là Laugh-O-Grams. Các phim hoạt hình là rất phổ biến, và Disney đã có thể có được phòng thu riêng của mình, khi mà nó đã ban cùng tên. Laugh-O-Gram đã thuê một số nhân viên, trong đó có anh trai của Hugh Harman và Ub Iwerks. Họ đã làm một loạt các câu chuyện cổ tích bảy phút mà kết hợp cả hành động sống và hoạt hình, mà họ gọi là Alice in Cartoonland. Bởi năm 1923, tuy nhiên, các hãng phim đã trở thành gánh nặng với khoản nợ, và Disney đã buộc phải tuyên bố phá sản.

Disney và anh trai của mình, Roy, sớm góp tiền của họ và chuyển đến Hollywood. Iwerks cũng chuyển tới California, và có ba bắt đầu Disney Brothers Studio. Thỏa thuận đầu tiên của họ là với New York nhà phân phối Margaret Winkler, để phân phối phim hoạt hình Alice của họ. Họ cũng phát minh ra một nhân vật được gọi là Oswald các Rabbit Lucky, và ký hợp đồng với quần short ở mức 1.500.

Năm 1925, Disney đã thuê một nghệ sĩ mực và sơn có tên là Lillian Giới hạn. Sau khi tán tỉnh ngắn gọn, các cặp vợ chồng kết hôn.

Một vài năm sau, Disney phát hiện ra rằng Winkler và chồng bà, Charles Mintz, đã bị đánh cắp quyền Oswald, cùng với tất cả các phim hoạt hình của Disney, trừ Iwerks. Ngay lập tức anh em Disney, vợ và Iwerks của họ sản xuất ba phim hoạt hình gồm có một nhân vật mới đã được phát triển để cho Walt gọi là chuột Mickey. Quần short hoạt hình đầu tiên có tính năng Mickey là máy bay điên và The Gallopín ‘Gaucho, cả hai bộ phim câm mà họ không tìm thấy phân phối. Khi âm thanh được thực hiện theo cách của mình vào bộ phim, Disney đã tạo ra một thứ ba, âm thanh và âm nhạc được trang bị ngắn gọi là Steamboat Willie. Với Walt như tiếng nói của Mickey, phim hoạt hình là một cảm giác tức thời.

Trước khi mở cửa vào ngày 01 Tháng Mười 2009, Bảo tàng Gia đình Walt Disney đã tồn tại gần như là một trang web, bắt đầu vào năm 1999 trên cơ sở thường xuyên, Storyboard sẽ xem xét lại một số nội dung tuyệt vời từ này “bảo tàng trên web.”
Xem vân tay dự đoán sức khoẻ của Walt Disney
Trong lần đầu tiên của “Friends & Gia đình Walt” series mới của chúng tôi, chúng tôi trình bày một cuộc phỏng vấn độc quyền với Imagineer và Disney Truyền thuyết Alice Davis.

Marc & Alice Davis hưởng tuần trăng mật,
ca Năm 1958, lịch sự Alice Davis.
Alice đã kết hôn với một trong những nghệ sĩ tài năng và nổi tiếng Walt, Marc Davis-có nghệ thuật và công việc hiện tại đang trên xem trong một cuộc triển lãm, hàng đầu Thưa femmes fatales: Nghệ thuật của Marc Davis, ở đây tại The Walt Bảo tàng Disney gia đình. Nhưng thực tế là Alice, theo đúng nghĩa của mình, một người rất quan trọng trong việc tổ chức Disney. Cô đã tham gia sâu vào công việc của Walt Hội chợ năm 1964 thế giới, đặc biệt là “đó là một thế giới nhỏ bé.” Ngoài ra, cô và Marc đều rất gần với kế hoạch của Walt cho một loại mới của trường nghệ thuật, mà đã trở thành CalArts. Dưới đây là một vài trong số những kỷ niệm của cô về thời gian của mình với Walt.

Q: Bạn nghĩ gì Walt đã có trong tâm trí khi ông đã tham gia vào Hội chợ Thế giới?

Alice: Tôi nghĩ rằng trong tâm trí của ông làm hội chợ quốc tế New York là ý tưởng rằng nó cũng sẽ cho anh ta một cái gì đó để cải thiện Disneyland, mà ông muốn trở thành một cái gì đó khác biệt so với bất kỳ công viên giải trí khác. Ông muốn nó sẽ được cái gì đó mà cả gia đình có thể thưởng thức nó. Ông đã có những ý tưởng tuyệt vời như đi xe cướp biển và những thứ kiểu, nơi ông sẽ có âm thanh và những con số cử động được. Tôi nghĩ Hội chợ Thế giới là một thử nghiệm.

Hình ảnh sử dụng trong trang web này là bảng điều khiển chào đón © Disney.

Thách thức của việc tạo ra “đó là một thế giới nhỏ” ở dưới một năm là một chút kinh ngạc, phải không?

Đó là một thời gian khó khăn. Ông luôn luôn yêu cầu bạn làm một điều gì đó đã vượt xa những gì bạn nghĩ rằng bạn đang có khả năng làm, và ông luôn luôn làm bạn ngạc nhiên chính mình bằng cách đạt được mục tiêu đó. Ông đã có một cách tuyệt vời làm cho bạn muốn làm vui lòng anh ta và khi bạn hài lòng anh ta, bạn không chạm đất trong một hoặc hai ngày. Nó làm cho bạn cảm thấy hết sức tốt. Vì vậy, ông đã làm bạn căng mình, và chúng tôi đã có một năm để có được chương trình với nhau.
Walt Disney có dấu vân tay như thế nào?
Vào đầu năm 1996, Disney bắt đầu một hệ thống sinh trắc học mới để xác định người sử dụng vượt qua hàng năm và theo mùa từ bỏ việc sử dụng một sọc vằn nhiều lớp ảnh ID vượt qua. Việc vượt qua mới tưởng như chứa không có bằng chứng trực quan của bản sắc thông qua sự bao gồm của một định danh cá nhân duy nhất nhìn thấy được trong hình thức của một bản đồ vân tay. Các mã vạch đã được thay thế bằng một dải từ mà bây giờ chứa bản đồ vân tay, tên chủ sở hữu vượt qua, và ngày hết hạn của các đường chuyền.

Ảnh của một bàn tay trong một scannerOn 02 Tháng Một 2005, allcurrent chuyền nhập Walt Disney World bắt đầu sử dụng quét dấu vân tay như một phương tiện để theo dõi khách hàng vào công viên chủ đề của họ. Disney cho biết tất cả các cá nhân từ 10 tuổi trở lên được yêu cầu cung cấp dấu vân tay của họ để quét. 1 Tuy nhiên, trẻ em dưới mười cũng đã được tham gia chương trình nhận dạng khách hàng này.

Quá trình này liên quan đến việc quét của ngón trỏ và ngón giữa và áp dụng một công thức hình học báo cáo tạo ra một định danh duy nhất của dấu vân tay của người đó đã được quét. 2 khách được yêu cầu của người tham gia công viên để làm cho dấu hiệu hòa bình. Sau đó, họ được yêu cầu của người tham gia để chèn chỉ số và ngón tay giữa vào máy quét vân tay.

Universal Orlando và SeaWorld được báo cáo là kế hoạch sử dụng quét dấu vân tay với mục đích nhận dạng của khách. Nó cũng được thông báo rằng Paramount Công viên giải trí hiện đang sử dụng công nghệ quét vân tay.

Các thông tin cá nhân thu thập được trong các hình thức của một máy quét dấu vân tay kỹ thuật số của khách truy cập có liên quan đến một đường chuyền của du khách. Các dấu vân tay quét thông tin được sử dụng để hạn chế truy cập vào các công viên chủ đề để chỉ những người đã mua vé hay vào công viên với một pha chuyền bóng đặc biệt.

Thật không may, nhiều du khách đến công viên giải trí không phải là nhận thức của các chính sách mới. Họ không được thông báo rằng thông tin dấu vân tay của họ đã được quét và giữ lại. Khách hàng không được cung cấp thông tin về các thông tin dấu vân tay sẽ được giữ lại bao lâu, cũng không biết được thông tin thu thập được sẽ được sử dụng cho các mục đích nào khác ngoài sự kiểm soát của vé vào công viên giải trí.

số phận Hoa Kỳ
Bối cảnh

Một vị trí gần Syracuse, New York là các nhà quy hoạch mới cho một kim tự tháp Companiesproject lớn được gọi là số phận Hoa Kỳ. Các công ty kim tự tháp trung tâm thương mại hoạt động trong khu vực 3 và đang phát triển phận Hoa Kỳ là một khu nghỉ mát. Dự án dự kiến ​​sẽ thu hút 30 triệu du khách mỗi năm và có giá $ 1,3 tỷ xây dựng. 4

Số phận Mỹ được quảng cáo là một khu nghỉ mát bên bờ sông 800 mẫu Anh gồm cấu trúc khép kín và tích hợp lớn nhất thế giới. 5 Toàn bộ phát triển sẽ sử dụng hơn 6 triệu feet vuông không gian bán lẻ, 500 nhà bán lẻ, du lịch và khách truy cập trung tâm lớn; 4.000 phòng khách sạn và một số địa điểm vui chơi giải trí và thể thao bao gồm 65 mẫu Anh công viên trong nhà. 6 số phận Hoa Kỳ sẽ bao gồm một công viên nghiên cứu để nghiên cứu du khách trong những dự án đã được mô tả như là một “phòng thí nghiệm sống”. 7 “phòng thí nghiệm sống” sẽ được thiết kế cho “đối tác chiến lược” của dự án để nghiên cứu con người và “sản phẩm của mình” trong kinh nghiệm phận Hoa Kỳ 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, sống, chơi, và tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ trong một môi trường phòng thí nghiệm nghiên cứu.
Bạn nên biết gì

Giám sát, cho dù nó được tài trợ bởi một tổ chức công cộng hay tư nhân là một cuộc xâm lược của riêng tư. Thu thập thông tin sinh trắc học cung cấp một phương tiện để tiến hành giám sát. Thu thập thông tin dấu vân tay có liên quan đến cảnh sát bắt giữ, làm việc với các tổ chức tài chính, hoặc kiểm soát quyền truy cập vào cơ sở bảo mật cao. Mở rộng việc thực hành bao gồm khách truy cập vào công viên giải trí là một sử dụng mới và không cần thiết đặc biệt là nếu nó liên quan đến trẻ em. Không có luật liên bang hạn chế việc thu thập thông tin cá nhân, chẳng hạn như ghi âm của chữ viết tay hoặc chữ ký điện tử cá nhân, dấu vân tay, quét mắt, hoặc DNA của các doanh nghiệp.

Như các công nghệ mới xuất hiện luật quấy rối của chính phủ, phạm pháp, xâm phạm đời tư và nghe trộm không thích ứng một cách nhanh chóng, đủ để đảm bảo quyền riêng tư của cá nhân, gia đình của họ. Sức mạnh và quyền đó đã một lần duy nhất là tên miền của chính phủ hiện nay đang tìm kiếm vùng đất màu mỡ của lãi suất cho lĩnh vực thương mại. Câu trả lời không chỉ đơn giản là áp dụng tiêu chuẩn cũ sang công nghệ mới.

Một dấu vân tay sinh trắc học là một, mà nếu bị tổn thương có thể rất khó khăn cho một người hòa giải. Một bức ảnh của một khuôn mặt và một chữ ký vật lý sinh trắc học, có thể được kiểm tra bằng cách sử dụng đôi mắt và kinh nghiệm của người xác minh. Những sinh trắc học đã được sử dụng thường xuyên và hiệu quả trong suốt lịch sử con người. Việc sử dụng tự động hóa để xác thực người mới và đang được thử nghiệm trên người tiêu dùng mà không có biện pháp phòng ngừa liên quan đến sự riêng tư của họ.

Biết càng nhiều càng tốt bất cứ khi nào thông tin cá nhân được thu thập từ bạn hay gia đình của bạn là bảo vệ tốt nhất của bạn. Nó không phải là vì lợi ích riêng tư của bạn thất bại để đặt câu hỏi hoặc yêu cầu thách thức đối với thông tin cá nhân. Điều quan trọng là đặt câu hỏi và khẳng định quyền của mình để bảo vệ bạn và sự riêng tư của con cái.

Walt Disney World không cung cấp một tùy chọn ít được quảng cáo cho những người không muốn cung cấp một máy quét dấu vân tay. Bạn có thể chọn để sử dụng một tài liệu photo CMND để vào công viên chủ đề của họ.

Trước khi quý khách đến thăm bất kỳ công viên giải trí có thêm bước liên lạc với họ về điều kiện vào cơ sở của họ.
Tại sao EPIC phản đối Theme Park Chính sách vân tay?

Đầu tiên thực hành này không kiểm tra tương xứng. Tương xứng trả lời câu hỏi – là số lượng và loại thông tin được thu thập bằng mức độ bảo mật được tìm kiếm? Thu thập thông tin dấu vân tay là cần thiết trong môi trường an ninh. Bước vào một nhà máy năng lượng hạt nhân, một cơ sở nghiên cứu an toàn, hoặc khu vực nhạy cảm của chính phủ tất cả sẽ vượt qua các thử nghiệm tương xứng liên quan đến việc thu thập thông tin dấu vân tay. Công viên chủ đề không kiểm tra các portionality liên quan đến việc thu thập thông tin dấu vân tay. Công viên chủ đề không phải là cơ sở bảo mật cao đòi hỏi phải có biện pháp an ninh rộng lớn. Công viên chủ đề có các phương tiện khác theo ý của họ để lưu trữ các mục tiêu tương tự – chắc chắn rằng người ban đầu sử dụng qua là cùng một người sử dụng vượt qua.

Thứ hai, đây là một vi phạm thô bạo các quyền riêng tư. Thu thập thông tin cá nhân đó là vượt quá và không cân xứng với mục đích mà thông tin được thu thập là sai. Để thu thập thông tin định danh chỉ vì một công ty, cơ quan chính phủ hoặc các bên tư nhân muốn thu thập thông tin cá nhân là chưa đủ. Mục tiêu của công viên chủ đề là để chắc chắn rằng các đường chuyền được sử dụng bởi người dùng đã được phát hành vượt qua. Điều đó không làm cho nó cần thiết để thu thập thông tin dấu vân tay.

Thứ ba, EPIC phản đối việc sử dụng các thông báo và đồng ý như một phương tiện bỏ qua thực tiễn bảo mật tốt. Tuy nhiên, trong trường hợp này kiến thức là một phần quan trọng của sự lựa chọn riêng tư của các gia đình có thể làm. Thông thường các trường học, hội, và các nhóm hoạt động lập kế hoạch chuyến đi đến công viên chủ đề không liên quan đến sự tham gia của cha mẹ. Theme khách của công viên nên có kiến ​​thức về thực hành thu thập thông tin dấu vân tay để họ có thể hành động để bảo vệ sự riêng tư và con cái của họ của họ.

Thứ tư, công viên giải trí cung cấp ít nếu có sự minh bạch trong việc thu thập và sử dụng các chức năng quét dấu vân tay của họ. Bất cứ lúc nào thông tin cá nhân được thu thập nó là rất quan trọng để cung cấp minh bạch để người tiêu dùng, công chúng và các phương tiện truyền thông có thể đảm bảo mình rằng những gì được báo cáo thực sự là những gì đang diễn ra. Minh bạch có thể được thực hiện bằng cách áp dụng các thông tin Hội chợ Thực hành (FIPS). FIPS đạt được khi các câu hỏi sau đây được trả lời trong khẳng định:
Chúng tôi đã có rất nhiều vấn đề với những con búp bê, với rách da. Giống như với các cô gái Can-Can. Chúng tôi đã phải đặt loại quần tây dài trên đó, dưới đầu gối, vì da sẽ tiếp tục chảy nước mắt liên tục với đá. Và tôi nhớ, ngay trước khi chương trình mở ra, Walt và [một vài chức sắc] đã đến xung quanh trong thuyền, và tôi đã lên trên cầu để lại, và Walt gọi cho tôi và ông nói, “Alice, làm thế nào bạn đặt quần tây dài dài trên các cô gái Can-Can? ‘Và tôi biết ông không muốn có một lời giải thích dài. Tôi nói, ‘Vâng Walt, bạn nói với tôi bạn muốn có một chương trình gia đình. “Và với điều này, tôi chạy, và họ cười và tất cả mọi thứ được tốt.

Khi Pepsi lần đầu tiên đến những người khác trong Studio về Hội chợ Thế giới, họ không nghĩ rằng đã có đủ thời gian, phải không?

Có. Và ông nói, “Chúng ta có thể làm điều đó.” Ông luôn luôn nhấn mạnh rằng chúng ta có thể làm điều đó, và chúng tôi đã làm nó.

Và chúng tôi đã có một phi hành đoàn rất nhỏ làm việc đó, và tất cả chúng tôi đã làm việc rất chăm chỉ vào nó. Tôi sẽ nói với bạn một câu chuyện rất hài hước về ông và cách ông. Tôi đã mặc quần áo búp bê cho Mexico và Walt bước vào. Tôi trên sân khấu trung tâm và Walt đến và ông nói, “Alice, xuống đây, tôi muốn cho bạn thấy một cái gì đó.” Và tôi nghĩ: “Rất tiếc! Tôi đã làm gì bây giờ? ‘”‘ Và tôi đi xuống và ông nắm lấy cánh tay và ông đã dẫn dắt tôi ra khỏi sân khấu âm thanh. Và ông nói, “Alice, tôi đã có để cho bạn thấy một cái gì đó mà tôi sẽ phải làm gì.”

Phân tích dấu vân tay của Walt Disney
Và ông dẫn tôi xung quanh góc, nơi họ đậu khoang chở hành lý cho các lái xe xuống Disneyland, cung cấp mọi thứ. Và ông nói, “Lại đây.” Và anh ấy giống như một đứa trẻ. Ông có [Audio-robot] bà ngoại từ các chương trình General Electric, ngồi ở ghế sau của chiếc xe này, với khăn choàng nhỏ của mình và như vậy. Và ông đã có một chiếc xe lăn ở phần sau của station wagon. Và ông nói, “Tôi gửi cô tới New York trên American Airlines. Lớp học đầu tiên. “Và ông nói, “Tôi đã có một cô gái trẻ đi với cô ấy rằng sẽ chăm sóc cô ấy. Và chúng ta sẽ đưa cô ấy trên máy bay, lần đầu tiên trong xe lăn và đặt mình vào ghế. Và cô gái này sẽ được chăm sóc cô ấy. “Và anh đã rất vui mừng và muốn biết tôi đã nghĩ gì về nó. Và tôi nói, “Tôi nghĩ đó là một ý tưởng tuyệt vời.” Và cô ấy đã đi và tất cả mọi người nghĩ rằng cô ấy là một người thực sự. Và tất cả họ đều rất ngạc nhiên khi họ đẩy xe lăn của cô ra khỏi máy bay, và cô ấy là một thành công lớn ở New York.

Alice Davis chuyện với Ron Miller tại
Ladies hàng đầu và femmes fatales:
Nghệ thuật của Marc Davis
khai mạc triển lãm, ngày 29 tháng 4 năm 2014.
Bất kỳ câu chuyện khác vui đến với tâm trí?

Bạn biết đấy, có một câu chuyện nhỏ hài hước của sự mở cửa của Disney World và một trong những công nhân nghe hai phụ nữ ít tuổi mà đã đứng nhìn vào tất cả những bông hoa đẹp và như vậy và một người nói, “Ồ, không, ông Disney chọn một nơi tuyệt vời để xây dựng công viên của mình? ‘Họ không biết đó là một đầm lầy để bắt đầu.

Chúng tôi đã nghe bạn kể một câu chuyện về cách Walt đã làm việc với bà Nelbert Chouinard của Trung tâm Nghệ thuật Chouinard. Bạn có lặp lại?

Anh biết anh muốn có các nghệ sĩ được đào tạo tốt, và anh biết nghệ sĩ của mình không được đào tạo đủ cho những gì ông muốn làm. Ông bắt đầu đi vào trường nghệ thuật khác nhau ở Los Angeles, hỏi xem họ có đào tạo nghệ sĩ của mình và khi anh có tiền anh sẽ trả tiền cho họ. Và ông đã đi đến một và họ đã cười nhạo ông và ông đã đi đến Trung tâm Nghệ thuật và họ đã cười nhạo ông và cuối cùng ông đã kết thúc tại Viện Nghệ thuật Chouinard và yêu cầu bà Chouinard và bà Chouinard nhìn anh và cô ấy nói, ‘Ông . Disney, tôi ngưỡng mộ những gì bạn đang làm. Bạn gửi cho những người bạn, và chúng tôi sẽ chăm sóc của các hóa đơn sau đó. ‘Và vì vậy cô mang ông trong hai năm trước khi ông đã có thể trả cô, và anh không bao giờ quên điều này. ”

Làm thế nào là Walt thể hiện lòng biết ơn của mình khi Viện Nghệ thuật Chouinard rơi vào thời kỳ khó khăn nhiều năm sau đó?

Cô gọi anh và anh buộc cô đi ra ngoài ăn trưa ngay lập tức, và ông ngay lập tức gửi kế toán hàng đầu của mình xuống để tìm ra rằng cô đã bị cướp mù bởi những người đang làm việc cho cô ấy, và đó là cách CalArts bắt đầu. Ông trả hết các khoản nợ của mình và cô đã trở thành bệnh và chăm sóc cô trong bệnh của cô. Nó đã cứu được ngôi nhà của mình cho cô ấy.

Và bạn có thể cho chúng tôi biết một chút về suy nghĩ ban đầu của Walt cho CalArts?

Ông đã có một trường nghệ thuật mà có thể đã được các trường nghệ thuật của tất cả các trường nghệ thuật. Ông muốn có truyền hình khép kín trong các trường học để các sinh viên đã được nghiên cứu mỹ thuật hoặc hình minh họa có thể xem các sinh viên nhảy múa và có thể thu hút các sinh viên nhảy múa. Anh sẽ có một phòng trưng bày nghệ thuật, nơi học sinh có thể đưa lên công việc của họ để bán và giúp chi trả cho học phí, tiền thuê của họ, bất cứ điều gì. Ông đã có các sinh viên thiết kế trang phục, các sinh viên may mặc và như vậy, tất cả làm việc cùng nhau học tập thương mại của họ. Ông đã có kế hoạch lớn của việc có những người như Picasso đến và chi tiêu mùa hè tại trường và cung cấp cho các lớp học cho các sinh viên. Và chính mình, muốn đi qua và dạy cho câu chuyện.

Định nghĩa sinh trắc học dấu vân tay

Sinh trắc học dấu vân tay tiếng anh là Dermatoglyphics.
Dermatoglyphics (từ tiếng Hy Lạp derma = “da” cổ đại, glyph = “khắc”) là nghiên cứu khoa học của dấu vân tay và có thể được truy trở lại năm 1892 khi một trong những nhà sinh học độc đáo nhất của thời gian của mình Sir Francis Galton, một người anh em họ của Charles Darwin, xuất bản tác phẩm kinh điển của ông về dấu vân tay. Nghiên cứu này sau đó đã được gọi là Dermatoglyphics của Tiến sĩ Harold Cummins, cha đẻ của phân tích dấu vân tay của Mỹ, mặc dù quá trình nhận dạng vân tay đã được sử dụng trong hàng trăm năm. Tất cả các động vật linh trưởng có làn da chỏm. Nó cũng có thể được tìm thấy trên bàn chân của động vật có vú nào đó, và trên đuôi của một số loài khỉ. Trong cơ thể người và động vật, dermatoglyphs có mặt trên ngón tay, lòng bàn tay, ngón chân và lòng bàn chân. Điều này giúp ánh sáng đổ vào một giai đoạn quan trọng của phôi, giữa bốn tuần và năm tháng, khi kiến trúc của hệ thống cơ quan chính đang phát triển.
Xem thêm: Phương pháp khoa học của sinh trắc dấu vân tay

Một dấu vân tay trong nghĩa hẹp của nó là một ấn tượng để lại bởi các rặng núi ma sát của một ngón tay của con người. Việc thu hồi dấu vân tay từ hiện trường vụ án là một phương pháp quan trọng của khoa học pháp y. Dấu vân tay có thể dễ dàng lắng đọng trên bề mặt thích hợp (chẳng hạn như thủy tinh hoặc kim loại hoặc đá đánh bóng) vào tiết tự nhiên của mồ hôi từ các tuyến eccrine có mặt trong rặng núi biểu bì.

Định nghĩa sinh trắc dấu vân tay là gì?
Trong một sử dụng rộng rãi thuật ngữ, dấu vân tay là dấu vết của một ấn tượng từ rặng núi ma sát của bất kỳ một phần của một bàn tay con người hoặc động vật linh trưởng khác. Một bản in từ chân cũng có thể để lại một ấn tượng của rặng núi ma sát.

Ấn tượng cố ý dấu vân tay có thể được hình thành bằng mực hoặc các chất khác được chuyển giao từ các đỉnh núi của rặng núi ma sát trên da một bề mặt tương đối trơn tru như một thẻ dấu vân tay. Hồ sơ vân tay thường có ấn tượng từ pad trên phần cuối của ngón tay và ngón tay cái, mặc dù thẻ vân tay thông thường cũng sẽ ghi lại các phần của khu vực doanh thấp của các ngón tay.

Dấu vân tay của con người là chi tiết, độc đáo, rất khó để thay đổi, và bền vững trong cuộc sống của một cá nhân làm cho chúng phù hợp là dấu mốc lâu dài của bản sắc con người và có thể được sử dụng bởi cảnh sát hoặc các cơ quan khác để xác định cá nhân, những người muốn che giấu danh tính của họ, hoặc để xác định người đang bất lực, hoặc đã chết và do đó không thể xác định chính mình, là do hậu quả của thiên tai. Phân tích dấu vân tay, sử dụng từ đầu thế kỷ 20, đã dẫn đến nhiều tội phạm được giải quyết. Điều này có nghĩa là nhiều tội phạm xem xét găng tay cần thiết.

Các dermatoglyphics xuất phát từ hai từ tiếng Hy Lạp (derma, da và glyphe, khắc) và đề cập đến sự hình thành núi ma sát mà xuất hiện trên lòng bàn tay và lòng bàn chân. Đặc trưng, ​​tóc không phát triển ở khu vực này. Các thành tạo ridging phục vụ tốt để tăng cường liên lạc, một khu vực của nhiều đầu dây thần kinh (da nhú) và hỗ trợ trong công tác phòng chống trượt. Dân của màn hình gốc châu Phi giảm sắc tố da ở những vị trí được chỉ định. Tất cả các nghiên cứu về sự sắp xếp bì sườn núi được phân loại vào dermatoglyphics hạn.

Các subdermatoglyphic từ được trích dẫn là một trong những isograms dài nhất trong tiếng Anh.
rối loạn di truyền

Mẫu dermatoglyphic bất thường thường liên quan đến các rối loạn di truyền. Một nghiên cứu của thai nhi có bất thường nhiễm sắc thể cho thấy các mô hình dermatoglyphic đã bị trì hoãn hơn hai tuần.

47, XXY hoặc XXY (hội chứng Klinefelter của): dư thừa vòm trên chữ số 1, dây trụ thường xuyên hơn vòng vào chữ số 2, vòng xoắn tổng thể ít hơn, số lượng sườn núi thấp hơn cho các vòng lặp và vòng xoắn so với các điều khiển, và giảm đáng kể tổng số ngón tay sườn núi .
Mối quan hệ loạn thị:
Cri du chat (5p-): dư thừa vòm trên đầu ngón tay và lòng bàn tay ngang đơn nếp nhăn ở 90%.
Mù bẩm sinh. Điểm dữ liệu ban đầu để bất thường triradius và vượt quá vòm trên đầu ngón tay
Hội chứng Naegeli-Franceschetti-Jadassohn
Hội chứng Noonan: Tăng tần số vòng xoắn trên đầu ngón tay, và triradius t trục, như trong hội chứng Turner, là thường xuyên hơn ở vị trí t ‘hoặc t “hơn trong kiểm soát Nhiều trường hợp duy nhất nếp nhăn ngang lòng bàn tay..
Trisomy (hội chứng Patau) 13: dư thừa vòm trên đầu ngón tay và lòng bàn tay ngang đơn nếp nhăn ở 60%.
Trisomy 18 (hội chứng Edward) 6-10 vòm trên đầu ngón tay và lòng bàn tay ngang đơn nếp nhăn ở 30%.
Trisomy 21 (hội chứng Down): Những người bị hội chứng Down có một mô hình dấu vân tay với các vòng chủ yếu là dây trụ, và một góc độ khác nhau đáng kể giữa các triradia một, t và d (của góc adt ‘). Sự khác biệt khác thường bao gồm một đơn ngang lòng bàn tay nhăn (“đường Simian”) (50%), và các mẫu trong các lĩnh vực hypothenar và interdigital, số lượng thấp hơn dải lông mọc midlines kỹ thuật số, đặc biệt là ở ngón tay nhỏ, tương ứng với ngón tay rút ngắn ở những người bị hội chứng Down. có ít sự thay đổi trong mô hình dermatoglyphic giữa những người có hội chứng Down hơn giữa các điều khiển, và các mẫu dermatoglyphic có thể được sử dụng để xác định mối tương quan với các khuyết tật tim bẩm sinh ở người có hội chứng Down bằng cách kiểm tra bên trái chữ số tay số sườn núi trừ tay phải đếm số sườn núi, và số lượng các dãy núi trên chữ số thứ năm của tay trái.
Hội chứng Turner: ưu thế của vòng xoắn, mặc dù tần số mô hình phụ thuộc vào sự bất thường nhiễm sắc thể đặc biệt.

Thế nào là người lãnh đạo

Người lãnh đạo là như thế nào?

Theo các nhà nghiên cứu và tổng kết của các giáo sư McShane và Von Glinow trong giáo trình của McGraw-Hill Inc., để trở thành một lãnh đạo, cần hội tụ 7 nhân tố sau[2]:

Nhạy cảm: Rất cần, và là cần nhất. Thể hiện trong việc chỉ số EQ phải cao. Lãnh đạo luôn cần có cảm nhân về thái dộ, tình cảm, mong muốn, buồn, vui… của người xung quanh mình, thậm chí của tất cả quần chúng, dù khả năng tiếp xúc của họ cũng bị hạn chế như mọi người.
Chính trực: Là điều công chúng mong đợi. Sự chính trực này làm cho công chúng cảm thấy tin tưởng; một nhân tố quan trọng để họ quyết định có đi theo lãnh đạo hay không. Nếu không, ít nhất lãnh đạo phải làm cho công chúng thấy là mình có chính trực.
Nghị lực: Để vượt qua các khó khăn nội tại và từ ngoại cảnh. Phần này phải hơn người và nhiều khi sự khâm phụ của quần chúng chỉ là từ đây.
Tự tin: Rất cần thiết để làm việc nói chung và sử dụng trong các trường hợp đặc biệt như nói trước công chúng.
Có động lực làm lãnh đạo: Đây có khi chính là tham vọng theo mọi nghĩa. Người lãnh đạo có thể tỏ ra họ có tham vọng hay không, song trên thực tế họ luôn cần có động lực làm lãnh đạo mới có thể là lãnh đạo thực thụ.
Trí thông minh: Chỉ cần ở mức trung bình trở lên. Đây là lý do vì sao người Việt hay nhìn nhận sai về lãnh đạo, hay đòi hỏi lãnh đạo phải là người thông minh nhất, IQ cao nhất, chuyên môn phải giỏi nhất… song thực tế lãnh đạo giỏi không cần những điều này. Nhưng cần thiết phải có khả năng phân tích các vấn đề và cơ hội.
Kiến thức chuyên môn: Cần có ở mức vừa phải trở lên, chủ yếu để trợ giúp quá trình ra quyết định. Năng lực mỗi người có hạn. Nếu lãnh đạo quá thiên về chuyên môn họ khó có đủ quỹ thời gian cho chính việc lãnh đạo.
Người phương Tây lãnh đạo như thế nào?

Công việc tìm kiếm cho đặc điểm hay những yếu tố của người lãnh đạo đã được thực hiện trong nhiều thế kỉ. Những tác phẩm triết học nổi tiéng nhất từ cuối Cộng hòa (Plato) cho tới cuốn Những cuộc đời song hành đã khám phá câu hỏi “Kĩ năng nào phân biệt một cá nhân và một người lãnh đạo?” Đặc biệt câu hỏi này là sự thừa nhận ban đầu về tầm quan trọng của lãnh đạo và được cho rằng nhà lãnh đạo cũng xuất phát từ những đặc điểm mà mỗi cá nhân có. Ý kiến này có nghĩa sự lãnh đạo dựa trên những đóng góp từ các cá nhân và được biết tới là “những đặc điểm của lãnh đạo trên lí thuyết”.
Tham khảo thêm Chức năng lãnh đạo là gì

Những đặc điểm trên lí thuyết đã được khám phá ra sau một loạt những sự kiện vào thế kỉ 19. Đáng chú ý nhất là tác phẩm của Thomas Carlyle và Francis Galton, những người mà công việc của họ đã khiến họ phải nghiên cứu trong hàng thập kỉ. Trong cuốn Heroes and Hero Worship (1841), Carlyle nhận ra tố chất, kĩ năng, và những đặc điểm thể chất của những người có thể có quyền lực. Trong cuối Hereditary Genius’ của Galton (1869), ông nghiên cứu khả năng lãnh đạo trong một gia đình đầy quyền lực. Sau khi chỉ ra rằng số lượng những người thân nổi tiếng giảm đi khi chuyển từ tấm bằng thứ nhất sang tấm bằng thứ hai, Galton kết luận rằng lãnh đạo là thừa kế. Nói cách khác, những nhà lãnh đạo được sinh ra, chứ không phải được phát triển lên. Tất cả những tác phẩm đáng chú ý này đã bổ sung thêm những sự trợ giúp ban đầu rằng lãnh đạo là một đặc điểm của những người đứng đầu.

6 nhân tố quyết định thành công của một người lãnh đạo tốt

Bí quyết 1 : Dám nghĩ, dám làm và có kỹ năng ra quyết định

Tố chất thường thấy ở một lãnh đạo giỏi là dám nghĩ, dám làm và có kỹ năng ra quyết định. 12 năm trước, ông David Thái, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Công ty Cổ phần Việt Thái có ý tuởng kinh doanh café mang hương vị quốc tế. Và mặc cho bạn bè nghi ngờ, Highlands vẫn ra đời và nhanh chóng thành công.

Thực tế, để ý tưởng triển khai vào thực tiễn mang lại kết quả tốt, để có một quyết định đúng đắn, đòi hỏi người lãnh đạo phải có một cảm quan tốt, đánh giá và dự báo được tình hình, cân nhắc được lợi hại của các quyết định và hiểu sâu sắc việc mình làm. Ông Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch Vingroup từng chia sẻ, trước khi lên ý tưởng cho một dự án mới, ông thường đi đây đó để tham khảo. Cách làm này giúp cho các ý tưởng, kế hoạch của người lãnh đạo trở nên thực tế và sát sườn.

Bí quyết 2 : Biết tìm người và giữ người

Theo bác sĩ Nguyễn Hữu Tùng, chủ tịch kiêm Tổng giám đốc tập đoàn y Khoa Hoàn Mỹ, một trong những việc khó nhất của người lãnh đạo là tìm kiếm nhân sự. Bởi tìm được người quản lý, nhân viên vừa giỏi kiến thức-chuyên môn, dám nhận công việc, vừa có bản lĩnh chịu trách nhiệm,vừa có đạo đức, hiểu được những chiến lược, tầm nhìn, văn hóa công ty… là rất khó.

Các lãnh đạo cũng phải xây dựng được cho mình một đội ngũ nhân sự tận tụy với công việc, có tinh thần hợp tác và vì mục tiêu chung. Để đạt được điều đó, bà Phạm Thị Việt Nga- Chủ tịch Dược Hậu Giang cho biết, từ lâu nay, bà đã rất ưu tiên cho công tác đào tạo, tập huấn nhân viên để tạo ra một đội ngũ nhân sự biết việc và làm được việc.

Việc quan trọng khác của một lãnh đạo giỏi là biết tin giao việc. Nếu nhân viên làm sai, người lãnh đạo giỏi sẽ tạo điều kiện để nhân viên khắc phục và sửa sai. Khi đánh giá về nhân viên, một lãnh đạo giỏi là người biết đánh giá dựa trên năng lực và kết quả công việc. Họ sẽ dùng con số, sự kiện, thành tích… làm thước đo. Điều này thường giúp nhân viên cảm thấy công bằng và mọi đóng góp của họ đều được ghi nhận, từ đó càng nỗ lực phấn đấu.

Ngoài ra, theo Harvey Mackay, bậc thầy giảng dạy về nghệ thuật lãnh đạo “Lãnh đạo giỏi phải có khả năng nhận diện, thu hút và giữ chân nhân tài”. Muốn vậy, ngoài thuật tin dùng người, không gì hơn bằng tạo môi trường làm việc hấp dẫn và khen thưởng xứng đáng.

Bí quyết 3 : Có tầm nhìn xa

Tất cả các lãnh đạo đều đồng tình, điểm khác nhau giữa lãnh đạo và quản lý là nhà lãnh đạo có ý tưởng, có tầm nhìn xa. Một tầm nhìn xa sẽ giúp lãnh đạo vạch trước những chiến lược hoạt động dài hạn, dự đoán trước những biến động có thể xảy ra trong tương lai để chuẩn bị,tìm cách thích nghi và đón đầu cơ hội.

Chẳng hạn, 9 năm trước, khi còn là đơn vị sản xuất nhỏ và may gia công, người đứng đầu ở May Sài Gòn đã nhận thấy, để công ty phát triển và lớn mạnh, công ty cần sản xuất theo mô hình FOB (chủ động nguyên liệu, phát triển sản phẩm dựa trên mẫu của khách hàng và sản xuất). Kết quả, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2004 – 2011 là 89%/năm về doanh thu và 60,4%/năm về lợi nhuận.

Bí quyết 4 : Luôn học hỏi

Trong quyển tự truyện của mình, Sam Walton – nhà sáng lập Tập đoàn Wal-Mart – đã nhiều lần nhắc về niềm đam mê lớn nhất của ông: “Tôi rất thích học. Tôi học mọi lúc mọi nơi, với mọi đối tượng…” Và ông xác nhận “ Mọi thứ tôi có được có lẽ do tôi đã may mắn là một người ham học và biết học những điều khôn ngoan nhất của con người”.

Trên thực tế, nhiều doanh nhân Việt cũng cảm nhận như vậy. Dù đã ngoài 60 tuổi, bà Phạm Thị Việt Nga, Chủ tịch Dược Hậu Giang vẫn rất ham học. Theo bà “Mỗi một ngày qua là một thay đổi, dù có học bao nhiêu cũng không đủ. Học – học nữa – học mãi và học ở mọi nơi – mọi người là điều tâm niệm cuộc đời tôi”

Lãnh đạo học để tạo giá trị cho bản thân nhưng cũng là để tăng giá trị tài sản vô hình cho doanh nghiệp. Qua việc không ngừng học hỏi, lãnh đạo sẽ tích lũy được nhiều kiến thức để kinh doanh bài bản, chuyên nghiệp và theo kịp những thay đổi của thời đại, của sức ép cạnh tranh không có chỗ cho cách làm cũ, tư duy cũ. Học gần như đã là bản năng với mỗi người lãnh đạo.

Bí quyết 5 : Biết lắng nghe nhân viên

Để sâu sát tình hình công ty, hiểu rõ suy nghĩ của nhân viên, không gì bằng lãnh đạo phải biết lắng nghe nhân viên. Đó là lý do mà nhiều doanh nghiệp duy trì bữa cơm trưa chung cho toàn công ty với mục đích, lãnh đạo có dịp tiếp xúc nhân viên, lắng nghe những câu chuyện thường ngày và những ý kiến của họ.

Nhưng theo các chuyên gia, muốn nghe những chia sẻ thật của nhân viên, quan trọng là thái độ lắng nghe từ phía lãnh đạo. Đó là một thái độ ghi nhận, tập trung, tôn trọng và thực sự mong muốn lắng nghe ý kiến nhân viên. Đặc biệt, lãnh đạo phải biết vượt lên tự ái bản thân, biết chấp nhận thay đổi trước những đề xuất của nhân viên.

Bí quyết 6 : Chân thành và hòa đồng

Mặc dù mức độ cởi mở của người lãnh đạo còn tùy ở tính cách, phong cách của người đó nhưng một nhà lãnh đạo giỏi thường biết đến như một người gần gũi, hòa đồng. Khi lãnh đạo cùng ăn cùng mặc, cùng sinh hoạt, cùng chơi với nhân viên, nhân viên sẽ cảm thấy không còn khoảng cách với lãnh đạo và dễ chia sẻ với lãnh đạo hơn. Đặc biệt, nếu những việc nhân viên làm mà lãnh đạo cũng làm được, sự tâm phục, ngưỡng mộ của nhân viên dành lãnh đạo càng cao.